Thế giới đổ xô tìm than để thay thế khí đốt, xuất khẩu than của Việt Nam tăng gần gấp đôi trong 4 tháng
Xuất khẩu than tăng vọt
Theo số liệu từ Cục Hải quan, trong tháng 4, Việt Nam xuất khẩu gần 169.000 tấn than, tăng 83% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 4 tháng đầu năm, các doanh nghiệp bán được gần 493.000 tấn than sang nước ngoài, thu về 78 triệu USD tăng gấp đôi về lượng và gần 70% giá trị. Giá than xuất khẩu trung bình trong tháng 4 khoảng 164 USD/tấn, tăng 10% so với đầu năm nay.
Indonesia là thị trường tiêu thụ nhiều than nhất của Việt Nam với tỷ trọng 27%, tăng 1 điểm phần trăm so với năm 2025. Lượng than xuất khẩu sang thị trường này tăng đột biến trong 4 tháng đầu năm nay với 132.231 tấn, tăng 200% so với cùng kỳ năm ngoái.
Riêng tháng 4 ghi nhận mức tăng trưởng hơn 1.100% so với cùng kỳ. Theo Asean Briefing, Năm 2025, Indonesia sản xuất khoảng 790 triệu tấn than, trong khi sản lượng được phê duyệt cho năm 2026 hiện khoảng 580 triệu tấn. Nguồn cung hiện được xác định bởi các mức trần quy định thay vì năng lực sản xuất.
Ngay cả trong môi trường nhu cầu mạnh mẽ, sản lượng cũng không thể mở rộng nếu không có sự điều chỉnh chính sách. Điều này chuyển nguồn cung từ một biến số do thị trường quyết định sang một biến số do chính quyền kiểm soát. Dẫu vậy, Indonesia vẫn là một “ông lớn” trong xuất khẩu mặt hàng than cho nhiệt điện khi chiếm 40-50% nguồn cung mặt hàng này vận chuyển bằng đường biển toàn cầu.
| Xuất khẩu than sang một số thị trường trong 4 tháng 2026 | ||
| 4 tháng 2026 (tấn) | So với cùng kỳ năm ngoái (%) | |
| Indonesia | 492.682 | 201 |
| Nhật Bản | 132.231 | 102 |
| Philippines | 128.327 | 5 |
| Hà Lan | 65.000 | 81 |
| Thái Lan | 36.377 | 280 |
| Hàn Quốc | 4.196 | (Không nhập) |
Nhật Bản là thị trường tiêu thụ lớn thứ hai với 128.327 tăng gấp đôi so với 4 tháng 2025. Reuters dẫn dữ liệu thị trường cho thấy các quốc gia nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) lớn của châu Á là Nhật Bản và Hàn Quốc đã đẩy mạnh sản lượng điện than trong tháng 4 và đầu tháng 5, do cuộc chiến tranh Iran làm gián đoạn nguồn cung loại nhiên liệu này và đẩy giá tăng cao.
Theo dữ liệu từ Trung tâm Dữ liệu Thị trường Điện Nhật Bản và Sàn giao dịch Điện Hàn Quốc (KPX), nguồn cung điện khí của Nhật Bản trong tháng 4 đã chạm mức thấp nhất trong hai năm, trong khi của Hàn Quốc giảm xuống mức thấp nhất trong sáu tháng.
Sự chuyển dịch này nhấn mạnh cách thức cuộc xung đột đang tái định hình các mô hình phát điện, sau khi đòn đáp trả của Iran đối với các cuộc tấn công của Mỹ-Israel đã làm tê liệt 17% công suất xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng của Qatar – nhà cung cấp lớn thứ hai thế giới.
Ông Andre Lambine, chuyên gia phân tích điện tại S&P Global Energy, phát biểu trong một sự kiện ngành gần đây: "Cuộc chiến này càng kéo dài, chúng ta sẽ càng chứng kiến nhiều sự chuyển đổi hơn."
Số liệu từ Trung tâm Dữ liệu Thị trường Điện Nhật Bản cho thấy, trong tháng 4, nguồn cung điện than tại Nhật Bản đã tăng vọt 11,1%, tốc độ nhanh nhất trong ít nhất một năm, trong khi điện khí sụt giảm 12,9% xuống còn 16.447 gigawatt giờ (GWh).
Nhật Bản và Hàn Quốc thường sử dụng khí tự nhiên hóa lỏng để bù đắp cho việc tạm ngừng hoạt động bảo trì các nhà máy điện hạt nhân trước khi nhu cầu bắt đầu tăng vào tháng 6.
Bà Fei Xu, chuyên gia phân tích khí đốt cấp cao tại ICIS, nhận định: "Sản lượng điện than gia tăng của Nhật Bản đã thay thế khoảng 4 lô hàng khí tự nhiên hóa lỏng trong tháng 4 – tương đương khoảng một nửa lượng nhập khẩu hàng năm mà chính phủ kỳ vọng cắt giảm được nhờ tăng cường sử dụng than. Điều này đã giúp duy trì lượng tồn kho khí tự nhiên hóa lỏng vào cuối tháng 4 ở mức gần trung bình 5 năm."
Dữ liệu từ KPX cho thấy nguồn cung điện than của Hàn Quốc trong tháng 4 tăng 39,7% so với cùng kỳ năm ngoái lên mức 10.733 GWh – mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 8/2019, trong khi điện khí giảm 6,4%.
Số liệu từ Hải quan Việt Nam cho thấy 4 tháng đầu năm nay, Hàn Quốc nhập khẩu 4.196 tấn than từ Việt Nam trong khi cùng kỳ năm ngoái không có lô hàng nào được vận chuyển sang nước này.
Nguồn: Cục Hải quan (H.Mĩ)
Cuộc đua tìm nguồn than thay thế cho khí đốt
Xuất khẩu than trên thế giới nói chung đang có xu hướng tăng mạnh trong bối cảnh căng thẳng khu vực Trung Đông leo thang. Lượng than vận chuyển đã tăng vọt trong những tháng gần đây trong bối cảnh các quốc gia tìm kiếm nguồn nhiên liệu thay thế cho nguồn cung dầu mỏ và khí đốt bị gián đoạn do cuộc xung đột đang diễn ra tại Trung Đông, theo Financial Times.
Thông thường, hoạt động vận chuyển than sẽ chậm lại vào tháng 4 và tháng 5 khi mùa sưởi ấm ở Bắc bán cầu dần kết thúc. Tuy nhiên, theo cơ quan định giá Argus, trong những tháng vừa qua, than là mặt hàng có khối lượng vận chuyển lớn nhất đối với các tàu cỡ trung, với giá cước vận tải trong tháng 5 trung bình cao hơn tới 50% so với tháng 2.
Dựa trên dữ liệu từ nền tảng phân tích Kpler, nhập khẩu than toàn cầu trong tháng này dự kiến đạt 107 triệu tấn, con số cao thứ ba ghi nhận trong tháng 5 kể từ năm 2017.
“Cứ mỗi tấn khí đốt, bạn có thể thay thế bằng hai tấn than và đột nhiên, loại than mà chúng ta từng lãng quên nay lại đang tạo ra tác động khổng lồ,” bà Angeliki Frangou, Giám đốc điều hành công ty vận tải Hy Lạp Navios Partners cho biết.
Bà nói thêm: “Chúng tôi chứng kiến nhiều quốc gia đang chuyển hướng sang than đá, một điều mà trước đây tôi chưa từng hình dung tới.”
Việc cắt giảm mạnh mẽ hoạt động vận tải qua Eo biển Hormuz, trong bối cảnh cả Iran và Mỹ đều nỗ lực giành quyền kiểm soát điểm nghẽn này, đã buộc nhiều quốc gia phải chuyển sang sử dụng các loại nhiên liệu được sản xuất tại những khu vực ít biến động hơn.
Theo Argus, giá cước vận tải từ Indonesia – quốc gia xuất khẩu than lớn nhất thế giới – đã tăng trung bình từ 60% đến 75% trong tháng 5 so với tháng 2. Chi phí vận chuyển từ Australia, nhà sản xuất than lớn thứ hai thế giới, cũng tăng từ 40% đến 50%.
Một thương nhân than đá nhận định cú sốc năng lượng từ cuộc chiến tại Trung Đông đã khiến nhu cầu than trở nên “quá tải”.
Thị trường than nhiệt toàn cầu — loại than dùng trong các nhà máy điện để sản xuất điện — vốn đã thắt chặt khi chiến tranh bắt đầu do các lệnh hạn chế xuất khẩu của Indonesia có hiệu lực từ đầu tháng 4. Thương nhân này cho biết thị trường kể từ đó càng trở nên khan hiếm hơn do xu hướng chuyển đổi từ khí đốt sang than.
Nhu cầu than đá đặc biệt đến từ châu Á, khu vực vốn phụ thuộc nặng nề vào nguồn cung khí đốt được vận chuyển từ vùng Vịnh qua eo biển này.
Trong khi nhiều quốc gia châu Á — như Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines — vốn đã phụ thuộc lớn vào than để sản xuất điện, thì một số quốc gia từng nỗ lực đa dạng hóa nguồn năng lượng nay cũng phải quay lại với loại nhiên liệu gây ô nhiễm này bằng cách tái khởi động các nhà máy than đã tạm ngừng hoạt động và dỡ bỏ các hạn chế sử dụng.
Ví dụ như Thái Lan đã cho vận hành trở lại các nhà máy nhiệt điện than. Trong khi đó, tại Hàn Quốc, Tổng thống Lee Jae Myung trước đây từng cam kết sẽ loại bỏ phần lớn công suất điện than vào năm 2040. Tuy nhiên, vào tháng 3, chính phủ đã dỡ bỏ mức trần huy động công suất 80% theo mùa đối với các nhà máy nhiệt điện than nhằm tạm thời giảm bớt sự phụ thuộc vào khí tự nhiên hóa lỏng.
Theo S&P Global, trong sáu tuần đầu tiên của cuộc căng thẳng tại Trung Đông, Hàn Quốc đã tăng sản lượng điện than thêm hơn 4GW so với cùng kỳ năm ngoái. Một số nước châu Á khác cũng gia tăng sản lượng nhiệt điện than trong hai tháng qua.
Theo Bimco, hiệp hội chủ tàu lớn nhất thế giới, lượng than vận chuyển đến Nhật Bản, Hàn Quốc và Liên minh Châu Âu đã tăng 27% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 4.
Ông Filipe Gouveia, Quản lý phân tích vận tải tại Bimco, cho biết quãng đường di chuyển từ các nước xuất khẩu than lớn đến Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu dài hơn nhiều so với khoảng cách vận chuyển than trung bình, điều này cũng góp phần đẩy giá cước vận tải lên cao. Argus cho biết thêm, nguồn cung nhiên liệu tàu biển ngày càng thắt chặt cũng là một nguyên nhân then chốt khác khiến cước phí vận chuyển than gia tăng.
Các lệnh hạn chế xuất khẩu của Indonesia đã buộc các nhà máy điện Trung Quốc phải thu mua nhiều hơn từ các quốc gia như Australia, Nga và Nam Phi. Trung Quốc hiện là quốc gia tiêu thụ than lớn nhất thế giới.
Nhu cầu than của Trung Quốc cũng được thúc đẩy bởi nhu cầu gia tăng từ các nhà máy sản xuất hóa chất từ than, vốn sử dụng than làm nguyên liệu đầu vào để sản xuất các sản phẩm hóa dầu. Xung đột tại vùng Vịnh đã dẫn đến sự thiếu hụt các sản phẩm hóa dầu trên toàn cầu, thúc đẩy Trung Quốc tăng cường sản xuất hóa chất từ than.
Trong tháng 3, nhu cầu từ Trung Quốc đã đẩy giá than tiêu chuẩn tại châu Á lên mức cao nhất trong hơn hai năm, mặc dù giá đã hạ nhiệt nhẹ sau đó. Các thành viên thị trường tin rằng giá có thể tăng cao hơn nữa khi bước vào mùa cao điểm sử dụng điều hòa nhiệt độ vào mùa hè.
Theo các thành viên thị trường, thông thường các nhà máy điện ở Bắc bán cầu bắt đầu tích trữ than vào đầu tháng 7 để chuẩn bị cho giai đoạn “đốt hè” do nhu cầu làm mát tăng cao, và các hoạt động thu mua này hiện đang trong quá trình thương thảo.
