Mục tiêu 5 tỷ USD của ngành điều đang lung lay?
Tìm cách 'vượt bão' khó khăn
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), năm 2025, Trung Đông nằm trong top 3 thị trường lớn nhất của hạt điều Việt nam, đứng sau Trung Quốc và Mỹ. Trong đó, UAE, Thổ Nhĩ Kỳ và Arab Saudi là 3 quốc nằm trong top 10 thị trường xuất khẩu điều nhân lớn nhất.
Thế nhưng, với xung đột tại Trung Đông, việc xuất khẩu hạt điều sang những quốc gia ở khu vực này đã bị ảnh hưởng lớn. Nhiều nhà nhập khẩu nhân điều thay vì sẵn sàng mua gối đầu như trước đây, giờ chỉ mua vừa đủ bán, dẫn tới việc các nhà xuất khẩu điều Việt Nam bị sụt giảm đơn hàng.
“Nhiều doanh nghiệp có truyền thống ký kết hợp đồng với các đối tác ở khu vực Trung Đông thời điểm này không có đơn hàng. Khi người mua họ không dám ký hợp đồng vì sợ rủi ro về thị trường tiêu thụ, đến những vấn đề liên quan việc vận chuyển. Do đó, đơn hàng xuất khẩu đi Trung Đông lúc này gần như đóng băng, không có hợp đồng ký mới”, ông Bạch Khánh Nhựt, Phó chủ tịch Vinacas cho chúng tôi biết.
Top 10 thị trường xuất khẩu điều nhân lớn nhất của Việt Nam năm 2025. Ảnh: Vinacas
Cũng theo chia sẻ của ông Nhựt, với những khó khăn tại thị trường Trung Đông, rất có thể thị phần xuất khẩu hạt điều của Việt Nam vào khu vực này sẽ bị giảm xuống trong năm 2026. Điều đó, tác động đến mục tiêu kim ngạch xuất khẩu mà ngành điều đã đặt ra từ đầu năm nay.
“Với tình hình hiện tại, Vinacas cũng chưa trả lời được câu hỏi là năm nay liệu kim ngạch xuất khẩu có thể bằng hoặc hơn năm 2025 hay không”, ông Nhựt nói.
Theo ông Nhựt, để tìm cách bù đắp sự thiếu hụt của thị trường Trung Đông, các doanh nghiệp xuất khẩu đang tìm cách “xoay trục” thị trường, để không làm gián đoạn chuỗi nhịp xuất khẩu.
Mỹ là thị trường mà các nhà xuất khẩu Việt Nam đang tích cực quay trở lại, sau khi thuế quan cho mặt hàng điều nhân vào nước này về mức 0%. Bên cạnh đó, là đẩy mạnh vào các thị trường tiềm năng như: Nam Á, Trung Quốc.
Báo cáo từ Vinacas cho thấy, năm 2025, Trung Quốc đã vươn lên trở thành thị trường nhập khẩu hạt điều lớn nhất của Việt Nam, vượt qua Mỹ, khi tới chiếm 19,6% thị phần xuất khẩu.
Còn trong 2 tháng đầu năm nay, theo số liệu của Cục Hải quan, xuất khẩu hạt điều của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc tăng 15,2% về lượng và tăng 23,7% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái, đạt xấp xỉ 8 nghìn tấn, trị giá hơn 55 triệu USD. Trong đó, giá trị xuất khẩu hạt điều Việt Nam trong tháng 1 sang thị trường này, tăng tới 2,6 lần.
“Hiện nay, đa phần các đơn hàng của doanh nghiệp là xuất sang thị trường Trung Quốc. Khi nhu cầu của thị trường này đang rất lớn. Dự báo, năm nay, Trung Quốc có thể là quốc gia nhập khẩu điều lớn nhất của nước ta. Do đó, sản lượng hàng sẽ tăng, phần nào bù đắp sự sụt giảm ở khu vực Trung Đông”, ông Nhựt chia sẻ thêm.
Hạt điều nhân sản xuất tại Nhà máy ở Đồng Nai. Ảnh: Hà Duyên
Nói về thị trường Trung Quốc, ông Tạ Quang Huyên, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Hoàng Sơn 1 chia sẻ với chúng tôi rằng, những năm gần đây, doanh nghiệp đã tìm hiểu và xúc tiến nhiều chương trình, với mục đích đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Khi nhận thấy nhu cầu tiêu dùng các loại hạt dinh dưỡng, trong đó có hạt điều của người dân Trung Quốc ngày một cao.
“Chúng tôi đã xây dựng kế hoạch hướng đến các nhóm đối tượng là những tập đoàn bán lẻ lớn tại Trung Quốc. Hiện chúng tôi đã bán được hạt điều vào một số tập đoạn tại đây. Trong đó có tập toàn bán lẻ các loại hạt đứng thứ 2 tại Trung Quốc”, ông Huyên nói thêm.
Vinacas cho biết, 2 năm trước, Hiệp hội đã tổ chức 1 đoàn xúc tiến thương mại theo chương trình xúc tiến thương mại quốc gia do Bộ Công thương chủ trì. Theo đó, 25 thành viên trong đoàn Vinacas đã tiếp xúc với các nhà bán lẻ hàng đầu tại Trung Quốc. Đồng thời, cũng xúc tiến 2 hội thảo về ngành hàng. Đây chính là những cơ sở để ngành điều có thể đẩy mạnh giao dịch hơn nữa trong thời gian tới.
Tạo giá trị lớn từ chế biến sâu
Theo Vinacas, để đảm bảo tăng trưởng dài hạn, Hiệp hội đã xác định phát triển nguyên liệu thô trong nước và chế biến sâu là những ưu tiên trong chiến lược phát triển của ngành ngay từ bây giờ. Mục tiêu là hướng tới việc đảm bảo vị thế dẫn đầu toàn cầu không chỉ được đo lường bằng khối lượng và giá trị xuất khẩu, mà còn bằng hiệu quả, lợi nhuận và tính bền vững.
“Trong năm 2026 này, ngành điều Việt Nam sẽ tập trung vào khâu chế biến sâu, đẩy mạnh tiêu thụ các sản phẩm này đến người tiêu dùng, đặc biệt là nhóm hạt điều ăn liền. Khi nhu cầu tiêu thụ loại hạt dinh dưỡng của các quốc gia ngày càng lớn, nhất là người tiêu dùng tại Mỹ. Để làm được điều đó, chúng tôi sẽ đầu tư và xây dựng máy móc thiết bị hiện đại phục vụ cho ngành chế biến”, ông Phạm Văn Công, Chủ tịch Vinacas đã thông tin với chúng tôi.
Thực tế, hiện nay cũng đã có nhiều doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư nhà máy chế biến sâu với quy mô sản xuất lớn.
Công ty cổ phần Tập đoàn Gia Bảo vừa đưa vào hoạt động nhà máy chế biến nông sản và thực phẩm Bà Tư Bình Phước, với số vốn đầu tư 6,5 triệu USD, hướng tới dòng sản phẩm chế biến sâu phục vụ cho xuất khẩu.
Ông Trần Văn Sơn, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn Gia Bảo chia sẻ với chúng tôi rằng, nhu cầu tiêu dùng của thế giới hiện tại không chỉ ăn ngon, sản phẩm chất lượng mà còn mang yếu tố dược tính. Do đó, năm 2026, Công ty dự kiến nhập dây chuyền công nghệ từ Đài Loan (Trung Quốc) về để đẩy mạnh chế biến hạt điều tẩm gia vị.
“Năm 2025, chúng tôi xuất khẩu 1.350 tấn sản phẩm hạt điều chế biến sâu sang các thị trường. Giá trị gia tăng mà doanh nghiệp thu lại cao gấp nhiều lần. Ví dụ 1 tấn điều chế biến sâu, có thể thu về được 25-30 triệu đồng nhưng 1 tấn điều thô mua đi bán lại, phần lợi nhuận khá thấp, tầm 5-6 triệu đồng”, ông Sơn nói.
Ở góc độ thị trường, ông Sơn cho rằng, các thị trường lớn cho sản phẩm chế biến sâu mà doanh nghiệp đang hướng đến là Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản. Trong năm 2026, doanh nghiệp dự kiến sẽ sản xuất khoảng 2.600 tấn sản phẩm từ hạt điều.
Để đạt được con số này, công ty đang có kế hoạch mở rộng liên kết sản xuất với Hợp tác xã, với mục đích chủ động 60% nguồn nguyên liệu trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu xuống mức 40%.
“Mục tiêu của chúng tôi là liên kết được 500 hộ dân. Mỗi hộ 2 ha, tôi đã có 1.000 ha. 1 ha bình quân cho 2 tấn điều. Nếu có 2.000 tấn thì gần như giảm tải được việc phụ thuộc tới 60-70% nguyên liệu điều thô nhập khẩu”, ông Sơn chia sẻ thêm.
Các chuyên gia hy vọng cho rằng, việc đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu sẽ góp phần giữ vững được kim ngạch xuất khẩu mà ngành điều đã đặt ra trong năm nay. Đồng thời, sự thay đổi trong việc cung ứng những sản phẩm chế biến sâu, sẽ giúp Việt Nam dần chuyển từ “xưởng gia công” sang một trang mới, đó là định vị được thương hiệu hạt điều Việt Nam trên bản đồ thế giới.
