|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Quốc tế

Bài toán kinh tế trong chiến tranh (Bài 1): Số lượng là một loại chất lượng

13:36 | 28/03/2026
Chia sẻ
Trong chiến tranh đại quy mô, những kiệt tác kỹ thuật tinh xảo nhiều khi lại gục ngã trước các món đồ rẻ tiền được sản xuất hàng loạt. Triết lý "vừa đủ tốt" và tâm lý sẵn sàng chấp nhận vòng đời ngắn của vũ khí thường là chìa khóa giúp duy trì sức chịu đựng của một quốc gia trong một cuộc chiến tiêu hao.

Chất lượng và số lượng thường được coi là hai đặc tính riêng biệt và xung khắc với nhau của một sự vật, hiện tượng. Tăng chất lượng thường dẫn tới giảm số lượng và ngược lại, tăng số lượng sẽ làm giảm chất lượng. Nhưng nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin khi tổng kết quy luật của xung đột vũ trang đã nói: "Bản thân số lượng cũng là một loại chất lượng".

Lời khẳng định này được minh chứng rõ nét qua câu chuyện nửa đùa nửa thật về một chỉ huy xe tăng Đức Quốc xã trong Thế chiến II. Sau khi tự hào tuyên bố rằng một chiếc xe tăng hạng nặng Tiger của Đức có sức mạnh vượt trội, đánh bại được 10 chiếc xe tăng Sherman của Mỹ hay T-34 của Liên Xô, viên sĩ quan này chua chát thừa nhận: "Nhưng quân địch luôn có chiếc thứ 11". Nói cách khác, sự vượt trội về số lượng của Mỹ và Liên Xô đã đè bẹp ưu thế chất lượng của Đức.

Trong một cuộc chiến tiêu hao của thế kỷ 21, mối tương quan giữa số lượng và chất lượng vẫn là yếu tố cần cân nhắc kỹ khi đánh giá rủi ro của việc theo đuổi sự hoàn hảo kỹ thuật. Khi các quốc gia bước vào xung đột, năng lực của dây chuyền lắp ráp có sức ảnh hưởng không kém gì hỏa lực trên chiến trường.

Ba triết lý sản xuất của các siêu cường

Khi bước vào Chiến tranh thế giới thứ 2, nước Mỹ đã biến vũ khí thành các sản phẩm công nghiệp đại trà với sự đóng góp đắc lực của kiến trúc sư Albert Kahn. Nhiều nhà máy mới được dựng lên để sản xuất từng bộ phận, phụ tùng. Sau đó, những cấu phần này được vận chuyển đến các nhà máy sản xuất ô tô được chuyển đổi mục đích thành nơi lắp ráp xe tăng, xe bọc thép

Chiến lược tích hợp theo chiều ngang này thúc đẩy tính chuyên môn hóa của từng cơ sở và cải thiện hiệu quả sản xuất chung. Xe tăng M4 Sherman được sản xuất với thời gian trung bình chỉ 10.000 giờ công. Hình ảnh đặc trưng của nền công nghiệp Mỹ là các dây chuyền lắp ráp thẳng hàng song song với những cỗ máy kéo dài vút tầm mắt.

Hình ảnh dây chuyền sản xuất xe tăng M4 tại nhà máy Detroit, bang Michigan của Mỹ năm 1942. Ảnh: US Army.

Xe tăng M4 được hoàn thiện dần theo từng bước trong dây chuyền công nghiệp ở Detroit, xếp thành hàng dài vút tầm mắt. Ảnh: Detroit Public Library

Liên Xô cũng chuyển đổi nhiều nhà máy dân dụng sang sản xuất vũ khí trong Thế chiến 2. Đáng chú ý, kiến trúc sư công nghiệp Albert Kahn cũng là người thiết kế nhà máy máy kéo tại Stalingrad, nơi sau này được chuyển đổi để sản xuất xe tăng. Để giảm tải cho hệ thống đường sắt bị tàn phá và đang quá tải, các nhà máy Liên Xô áp dụng mô hình tích hợp dọc, tức là hầu hết khâu chế tạo linh kiện và lắp ráp được thực hiện ở cùng một nhà máy, giảm thiểu việc phải vận chuyển từ nơi này tới khác.

Mỗi chiếc T-34 cần khoảng 35.000 – 50.000 giờ công trước khi xuất xưởng. Phương pháp tích hợp dọc khiến nhà máy của Liên Xô không đạt hiệu quả cao như Mỹ, nhưng là phương án tối ưu với hoàn cảnh đặc thù khi đó.

Đồng thời, Liên Xô áp dụng triết lý "giới hạn tuổi thọ có chủ đích" (planned obsolescence) để cho ra các sản phẩm “vừa đủ tốt”. Các nhà nghiên cứu Liên Xô thống kê được rằng vòng đời của một chiếc xe tăng T-34 từ lúc xuất xưởng tới khi bị phá hủy chỉ chưa đầy 6 tháng. Trong thời gian ngắn ngủi đó, chiếc xe tăng thường không di chuyển quá 1.500 km.

Do vậy, nhà máy Liên Xô không chế tạo động cơ có tuổi thọ quá cao, vật liệu cũng không cần quá tốt, mọi chi tiết thừa thãi và lãng phí đều bị cắt giảm để giảm giá thành và đẩy nhanh tốc độ xuất xưởng.

Dây chuyền sản xuất tại nhà máy Molotov (Gorky) của Liên Xô năm 1942, xe tăng cũng xếp thành hàng dài vút tầm mắt. Ảnh: Cục Lưu trữ Chính trị Nizhny Novgorod.

Trái ngược hoàn toàn với kiểu sản xuất đại trà hàng loạt của Mỹ hay Liên Xô, các nhà máy Đức như Henschel áp dụng mô hình lắp ráp tại chỗ theo kiểu hàng thủ công tinh xảo. Nhiều công việc đòi hỏi công nhân trình độ cao thực hiện bằng tay, không có máy móc dây chuyền. Hệ quả là quá trình lắp ráp xe tăng Tiger tiêu tốn tới 300.000 giờ công mỗi chiếc.

Trong nhà máy sản xuất xe tăng Tiger của Đức có bậc thang, hàm ý công nhân phải trèo lên xuống nhiều lần để làm việc trong thời gian dài với mỗi sản phẩm. Ảnh: Cục Lưu trữ Liên bang Đức.

Công nhân Đức phải dùng phấn viết nháp lên thân xe tăng, cho thấy quy trình sản xuất rất phức tạp và thủ công. Ảnh: treasurebunker.com

Những chiến lược sản xuất khác nhau này góp phần cho ra những con số sản lượng rất khác biệt. Mỹ và Liên Xô mỗi nước sản xuất được trên 100.000 xe thiết giáp các loại trong suốt cuộc chiến, trong khi Đức chỉ đạt khoảng 47.000 chiếc. Và kết quả của cuộc chiến cho thấy dây chuyền công nghiệp đại trà của phe Đồng minh đã đè bẹp các xưởng thủ công của Đức.

 

Sản xuất "tên lửa như xe đạp" trong chiến tranh thế kỷ 21

Triết lý sản xuất "đồ dùng một lần" đang tái hiện trong cuộc xung đột giữa Iran với Mỹ và Israel năm 2026 hiện nay. Khác biệt nằm ở chỗ, xe tăng đã được thay thế bằng các tên lửa tấn công và đầu đạn đánh chặn.

Tehran đang áp dụng triết lý "giới hạn tuổi thọ có chủ đích" tương tự Liên Xô trước kia. Đối với những loại vũ khí được thiết kế để “một đi không trở về”, bất kể có trúng mục tiêu hay không, thì việc đầu tư vào vật liệu cao cấp là không cần thiết.

Dòng UAV Shahed-136 của Iran có giá chỉ khoảng 20.000 USD, sử dụng khung sợi thủy tinh và động cơ 2 kỳ sao chép ngược từ thiết bị dân dụng. Ngành công nghiệp quốc phòng Iran sản xuất các thiết bị bay này với mức độ đơn giản được ví như việc sản xuất xe đạp. Các loại tên lửa đạn đạo của Iran cũng được ước tính có chi phí rất thấp.

Một chiếc UAV Shahed 136 được trưng bày tại tòa nhà Quốc hội Mỹ. Ảnh: Getty Images.

Ở chiều ngược lại, Mỹ và đồng minh duy trì nền công nghiệp sản xuất các hệ thống đánh chặn tinh vi và đắt đỏ. Một quả tên lửa Patriot PAC-3 có giá 4 - 5 triệu USD, trong khi một quả tên lửa tầm cao THAAD lên tới 12 - 15 triệu USD, tức là đắt gấp vài chục, thậm chí vài trăm lần so với vũ khí tấn công của Iran.

Ngân hàng trung ương có thể in ra bao nhiêu USD tùy thích, nhưng giá thành cao ở đây hàm ý quá trình sản xuất rất khó khăn, phức tạp và tiềm ẩn nguy cơ không theo kịp nhu cầu trên chiến trường.

Nền công nghiệp phương Tây mất nhiều năm để bổ sung lượng đạn đánh chặn bị hệ thống phòng thủ sử dụng chỉ trong vài tuần xung đột. Điển hình, Mỹ đã tiêu thụ 92 quả đạn THAAD trong xung đột 2024-2025, tương đương 14,3% kho dự trữ toàn cầu, và ước tính mất từ 3 đến 8 năm để sản xuất bù đắp số lượng này.

Khi hệ thống phòng thủ bị quá tải và cạn kiệt đạn dược, các cơ sở hạ tầng trọng yếu lập tức chịu rủi ro. Tháng 3/2026 tại Israel, các tên lửa của Iran đã xuyên thủng lưới phòng không, đánh trúng các khu dân cư tại Tel Avid, Jerusalem và thị trấn Dimona – nơi có lò phản ứng hạt nhân của Israel, khiến hơn 180 người bị thương. Sân bay quốc gia Ben Gurion cũng phải đóng cửa và ngừng toàn bộ hoạt động sau khi hứng chịu 4 đợt tấn công bằng tên lửa.

Bài toán tiêu hao vũ khí cũng đang gây nhiều hệ lụy với lực lượng quân sự Mỹ tại khu vực. Các căn cứ tiền phương, vốn được xây dựng kiên cố trong hai thập kỷ qua, giờ đây trở thành điểm yếu khi không có đủ lưới phòng không bảo vệ. Tên lửa và UAV của Iran đã đánh trúng trung tâm tác chiến chiến thuật tại cảng Shuaiba, gây hư hại hạ tầng tại căn cứ không quân Ali Al Salem và Camp Buehring ở Kuwait. Hệ thống radar cảnh báo sớm tại căn cứ Al Udeid (Qatar) và thiết bị liên lạc tại căn cứ Prince Sultan (Saudi Arabia) cũng chịu chung số phận.

Đối diện với hỏa lực rẻ tiền được sản xuất hàng loạt của Iran trong khi số lượng đạn đánh chặn có hạn, Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) đã ra lệnh phân tán hàng nghìn binh sĩ rời khỏi các căn cứ quân sự truyền thống. Theo nguồn tin của New York Times, nhiều quân nhân Mỹ hiện đang phải làm việc từ xa tại các khách sạn dân sự hoặc các khu văn phòng tạm thời trên khắp Trung Đông để tránh rủi ro. Iran thì đang khuyến khích người dân Vùng Vịnh cung cấp tọa độ các khu vực có lính Mỹ trú ngụ để Tehran ra đòn tấn công.

Việc phân tán lực lượng từ căn cứ quân sự ra khách sạn là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy sự bất cập của tư duy dùng vũ khí tinh vi đắt đỏ để đối đầu với hỏa lực bầy đàn giá rẻ.

Chi phí thực sự của chiến tranh

Chiến tranh hiện đại có bản chất cốt lõi là một cỗ máy tiêu hao vật chất với tốc độ khủng khiếp. Những quả đạn trị giá hàng chục triệu USD bị đốt cháy chỉ trong vài giây, những căn cứ quân sự tỷ đô phải sơ tán, và hàng vạn thiết bị bị phá hủy liên tục trên chiến trường. Phe nắm giữ lợi thế không nhất thiết phải là bên sở hữu công nghệ hoàn hảo nhất, mà là bên có khả năng sản xuất hàng loạt với chất lượng vừa đủ để theo kịp nhịp độ giao tranh.

Sự tiêu hao vật chất khổng lồ này cũng dẫn đến một câu hỏi tự nhiên là: Làm thế nào các quốc gia có thể liên tục chi trả cho các cuộc chiến đắt đỏ?

Câu trả lời thực chất nằm ẩn sâu trong các bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương và cấu trúc nợ quốc gia. Các chính phủ hiện đại hiếm khi tài trợ chiến tranh bằng cách thu thuế trực tiếp từ người dân. Thay vào đó, các nước sử dụng kết hợp hai chiêu bài là nợ công và in tiền.

Chi phí của chiến tranh không biến mất mà chỉ chuyển hóa thành lạm phát, chi phí lãi vay khổng lồ và các chính sách phát triển phúc lợi không bao giờ được thực thi. Nội dung này sẽ được phân tích kỹ hơn trong Phần 2 và cũng là phần cuối mang tựa đề “Chi phí hữu hình biến thành vô hình”.

Đức Quyền