Từ hút vốn sang chọn nhà đầu tư: Nghị quyết 10 - bước ngoặt mới trong thu hút FDI của Việt Nam
Trong hơn một thập kỷ qua, Việt Nam luôn nằm trong nhóm ba quốc gia thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất ASEAN. Mạng lưới 17 hiệp định thương mại tự do, vị trí địa lý thuận lợi và lực lượng lao động cạnh tranh đã giúp Việt Nam trở thành cứ điểm sản xuất của nhiều tập đoàn toàn cầu như Samsung, LG, Intel, Lego hay Amkor.
Báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đánh giá Việt Nam là một trong những nền kinh tế hưởng lợi lớn từ xu hướng đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu.
Số liệu từ OECD cũng cho thấy, giai đoạn 2010 - 2024, tổng vốn FDI đưa Việt Nam lên vị trí thứ ba trong khu vực, chỉ sau Singapore và Indonesia. Tỷ lệ thương mại trên GDP đạt gần 200% - thuộc nhóm cao nhất thế giới - cho thấy nền kinh tế ngày càng gắn chặt với chuỗi giá trị toàn cầu.
Dù vậy, báo cáo của OECD chỉ ra một thực tế, phần lớn dự án FDI tại Việt Nam vẫn tập trung ở các công đoạn lắp ráp và những phân khúc có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Mức độ lan tỏa sang doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, trong khi chuyển giao công nghệ chưa đạt như kỳ vọng. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc và các rào cản thương mại mới xuất hiện, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào lợi thế lao động giá rẻ và ưu đãi đầu tư đang bộc lộ giới hạn.
Đó cũng là bối cảnh để Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Điều đáng chú ý của nghị quyết này không nằm ở việc bổ sung thêm ưu đãi, mà ở sự thay đổi trong cách nhìn về FDI, từ "thu hút vốn" sang "tạo giá trị".
Việt Nam đang thay đổi cách nhìn về FDI, từ "thu hút vốn" sang "tạo giá trị". (Ảnh: Lê Hương)
Từ thu hút vốn sang nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Sự thay đổi về tư duy thu hút FDI đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh khi quán triệt Nghị quyết 10-NQ/TW: "Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ nhằm bổ sung nguồn lực cho tăng trưởng mà phải góp phần nâng cao năng lực nội sinh, năng lực công nghệ, năng lực quản trị và sức cạnh tranh của nền kinh tế".
Nếu trước đây, câu hỏi đầu tiên dành cho một dự án FDI thường là nhà đầu tư mang bao nhiêu vốn?, thì nay câu hỏi đã khác: Dự án đó mang theo công nghệ gì, có xây dựng trung tâm R&D hay không, có đào tạo nhân lực chất lượng cao, có giúp doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng hay tạo động lực cho chuyển đổi xanh hay không?
Sự thay đổi này không chỉ phản ánh yêu cầu phát triển của Việt Nam mà còn phù hợp với xu hướng cạnh tranh đầu tư toàn cầu. Khi lợi thế về lao động giá rẻ dần thu hẹp và các ưu đãi thuế ngày càng ít tạo khác biệt, năng lực thể chế, chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố quyết định sức hấp dẫn của một điểm đến đầu tư.
Theo OECD, sự thay đổi trong tư duy thu hút FDI được đánh giá là phù hợp với giai đoạn phát triển mới của Việt Nam.
Trong báo cáo nghiên cứu về chất lượng FDI tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu do Fares Al-Hussami chủ trì nhận định, động lực tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng dòng vốn FDI, khả năng chuyển giao tri thức, đổi mới sáng tạo và liên kết với doanh nghiệp trong nước hơn là quy mô vốn đăng ký.
OECD cho rằng, động lực tăng trưởng trong giai đoạn tới sẽ không còn đến từ việc thu hút thêm nhiều dự án, mà phụ thuộc vào khả năng lựa chọn những nhà đầu tư có thể chuyển giao tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và tạo ra giá trị lan tỏa cho khu vực doanh nghiệp trong nước. Nói cách khác, thay vì cạnh tranh bằng số lượng vốn đăng ký, Việt Nam cần cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.
Theo OECD, FDI chỉ thực sự tạo ra giá trị khi trở thành động lực thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng suất lao động và tăng cường năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp trong nước, thay vì chỉ đóng góp vào tăng trưởng ngắn hạn.
“Một tinh thần rất khác, một tinh thần mới" của Nghị quyết 10 là cụm từ mà ông Nguyễn Hải Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu (Eurocham) nhắc đến trong cuộc trao đổi với chúng tôi về FDI. Theo ông Minh, điểm đáng chú ý nhất của Nghị quyết 10 không nằm ở những chỉ tiêu cụ thể mà ở sự thay đổi trong cách Việt Nam nhìn nhận khu vực FDI.
Ông Nguyễn Hải Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu (Eurocham) cho rằng Nghị quyết 10 mang đến một tinh thần rất mới. (Ảnh: Eurocham)
Theo ông Minh, nếu trước đây Việt Nam ưu tiên thu hút đầu tư theo hướng mở rộng quy mô thì nay đã chuyển sang lựa chọn những dự án mang lại giá trị gia tăng cao.
“Nếu thời điểm nào đấy thì một quốc gia cũng phải thay đổi thôi, chứ không thể nào như ngày xưa là cứ đầu tư thế nào cũng được”, ông Minh nói.
Theo ông Minh, thực tế sự thay đổi này đã xuất hiện trong vài năm gần đây khi nhiều địa phương bắt đầu sàng lọc các dự án có giá trị gia tăng thấp hoặc tiêu tốn nhiều tài nguyên. Tuy nhiên, Nghị quyết 10 lần đầu tiên đưa định hướng đó thành chủ trương thống nhất ở cấp quốc gia.
Với cộng đồng doanh nghiệp châu Âu, đây là tín hiệu tích cực bởi định hướng của Nghị quyết 10 gần như phù hợp tuyệt đối với chiến lược đầu tư mà các doanh nghiệp này theo đuổi nhiều năm qua.
“Nếu có sản xuất thì đương nhiên phải là công nghệ cao. Các tiêu chuẩn về xanh, phát triển bền vững cũng là những yêu cầu mà chính các tập đoàn châu Âu đã tự đặt ra từ trước”, ông Minh nói, đồng thời khẳng định nhiều doanh nghiệp EuroCham vì thế cảm thấy được ghi nhận nhiều hơn khi Việt Nam chuyển trọng tâm từ quy mô vốn đầu tư sang chất lượng dự án.
Sự quay đổi trong quan điểm phát triển
Còn theo TS. Phí Vĩnh Tường, Phó viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, đây không đơn thuần là sự điều chỉnh về chính sách đầu tư mà là thay đổi về quan điểm phát triển.
"Trước đây FDI được coi là nguồn lực để bổ sung cho nhu cầu phát triển của Việt Nam. Còn với Nghị quyết 10, khu vực FDI được xác định là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, có vai trò phát triển tương đương với khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân", ông Tường phân tích.
TS. Phí Vĩnh Tường, Phó viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới đánh giá sự thay đổi về thu hút FDI chính là sự thay đổi về quan điểm phát triển. (Ảnh: Lê Hương)
Theo ông Tường, khi nhìn nhận FDI như một bộ phận của nền kinh tế, Việt Nam đồng thời phát đi cam kết xây dựng một môi trường kinh doanh bình đẳng hơn giữa các thành phần kinh tế. Điều đó có ý nghĩa lớn hơn nhiều so với việc bổ sung thêm một vài chính sách ưu đãi.
Đó là lời khẳng định rằng doanh nghiệp FDI không chỉ là những nhà đầu tư đến khai thác lợi thế chi phí của Việt Nam, mà sẽ trở thành đối tác cùng tạo ra giá trị và cùng chia sẻ trách nhiệm phát triển lâu dài với nền kinh tế.
Sự thay đổi này cũng mở rộng cách thức huy động nguồn lực quốc tế, nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là thu hút đầu tư trực tiếp, thì nay các dòng vốn đầu tư gián tiếp cũng được kỳ vọng sẽ tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển doanh nghiệp Việt Nam thông qua thị trường vốn.
Theo TS. Phí Vĩnh Tường, không chỉ mang lại nguồn lực tài chính, các dòng vốn này còn giúp doanh nghiệp trong nước tiếp cận phương thức quản trị hiện đại, kinh nghiệm kinh doanh và tri thức công nghệ quốc tế.
"Đây là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp nhận không chỉ vốn, mà cả tri thức, công nghệ và năng lực quản trị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động", ông Tường nói.
Nghị quyết 10 vì thế không chỉ thay đổi cách Việt Nam thu hút FDI, mà còn thay đổi tiêu chí đánh giá thành công của nền kinh tế. Sau gần bốn thập kỷ mở cửa, câu hỏi không còn là thu hút được bao nhiêu tỷ USD vốn đầu tư, mà là mỗi dự án FDI sẽ giúp Việt Nam tiến gần hơn bao nhiêu tới mục tiêu trở thành nền kinh tế dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh nội sinh.
TRỰC TIẾP