|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Tài chính

Thách thức nào cho tăng trưởng tín dụng năm 2026?

14:40 | 13/01/2026
Chia sẻ
Với mục tiêu tăng trưởng GDP hai chữ số trong năm 2026, trong khi tín dụng được định hướng tăng khoảng 15%, nền kinh tế Việt Nam đứng trước bài toán cân bằng các động lực tăng trưởng. Khi dư địa tín dụng thu hẹp, chính sách tài khóa và dòng vốn ngoại được kỳ vọng sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng.

Năm 2026, Quốc hội đặt mục tiêu tăng trưởng phấn đấu từ 10% trở lên, GDP bình quân đầu người đạt 5.400 - 5.500 USD, lạm phát kiểm soát ở mức khoảng 4,5%. Để hiện thực hóa các mục tiêu này, chính sách tiền tệ và tài khóa được yêu cầu điều hành linh hoạt, mở rộng hợp lý và có trọng tâm, trong đó dòng vốn tín dụng cần tập trung cho các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 ở mức khoảng 15%, có điều chỉnh tăng – giảm phù hợp với diễn biến thực tế, nhằm vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng và đảm bảo an toàn hệ thống tổ chức tín dụng.

Ngày 31/12/2025, NHNN đã có văn bản gửi các tổ chức tín dụng thông báo công khai, minh bạch về nguyên tắc giao TTTD năm 2026 để các tổ chức tín dụng chủ động triển khai thực hiện. Mức giao chỉ tiêu TTTD của tổ chức tín dụng căn cứ kết quả chấm điểm xếp hạng năm 2024 nhân với hệ số áp dụng chung cho các tổ chức tín dụng.

NHNN nhấn mạnh tăng trưởng tín dụng an toàn, đúng quy định của pháp luật trên cơ sở phù hợp với năng lực quản trị rủi ro, tình hình thanh khoản và khả năng hoạt động vốn, bảo đảm duy trì các tỷ lệ an toàn, đặc biệt là các tỷ lệ an toàn về thanh khoản và khả năng chi trả, nâng cao chất lượng tín dụng, sử dụng vốn đúng mục đích, hiệu quả, hạn chế nợ xấu gia tăng và phát sinh, đảm bảo an toàn hoạt động. 

 

Những thách thức đối với tăng trưởng tín dụng 

Nhìn lại năm 2025, NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 16%, song thực tế TTTD toàn hệ thống đạt gần 18% (tính đến ngày 24/12), nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP trên 8%. Bước sang năm 2026, khi mục tiêu tăng trưởng GDP được nâng lên mức hai chữ số, câu hỏi đặt ra là liệu mục tiêu tăng trưởng tín dụng có đủ để tiếp tục đóng vai trò là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế.

Trong báo cáo mới công bố, Chứng khoán Yuanta Việt Nam dự báo tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm nay sẽ đạt khoảng 15,21%.

Đồng thời, lịch sử điều hành tiền tệ tại Việt Nam cho thấy, các hạn mức tín dụng đầu năm thường mang tính định hướng thận trọng. Khi các biến số vĩ mô như lạm phát, tỷ giá ổn định và mục tiêu tăng trưởng GDP cần được hỗ trợ, NHNN thường có xu hướng nới lỏng hạn mức vào nửa cuối năm.

Dẫn số liệu từ báo cáo Yuanta Việt Nam, kết thúc năm 2025, tăng trưởng GDP và tăng trưởng tín dụng đạt lần lượt 8,02% và 19,01%, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng/GDP đạt 2,37 lần, cao hơn mức tỷ lệ trung bình giai đoạn 2010-2025 là 1,64 lần.

Từ đó, Yuanta Việt Nam ước tính, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% trong năm 2026 thì mức tăng trưởng tín dụng trung bình cần đạt 26,33% và mức thấp nhất là 16,44%.

Bên cạnh đó, việc NHNN đã điều chỉnh Hệ số điều tiết từ 3,5% trong năm 2025 xuống còn 2,6% trong năm 2026 cho thấy NHNN muốn ưu tiên kiểm soát rủi ro khi tăng trưởng tín dụng đã tăng trưởng mạnh trên 19% trong năm 2025.

"Như vậy, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% của NHNN buộc Chính phủ cần đẩy mạnh các động lực tăng trưởng khác, đặc biệt phát huy vai trò của Chính sách tài khóa mạnh hơn trong năm 2026, nhất là vai trò của thị trường vốn", báo cáo nhấn mạnh.

 (Nguồn:Chứng khoán Yuanta Việt Nam)

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Đức Hải, Giám đốc Đầu Tư Cấp Cao, Công ty quản lý Quỹ Manulife Investments Việt Nam, nhận định tăng trưởng tín dụng trong thời gian tới khó có thể duy trì ở mức cao như trước.

Theo ông Hải, ngân hàng là ngành kinh doanh có điều kiện, chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi các yêu cầu về an toàn vốn. Để mở rộng tín dụng, ngân hàng buộc phải gia tăng vốn chủ sở hữu nhằm đảm bảo hệ số an toàn vốn (CAR). 

Trong bối cảnh hiện nay, nhóm 4 ngân hàng thương mại Nhà nước (Big4) gần như không còn nhiều dư địa để tăng vốn. Việc tăng vốn chủ yếu dựa vào giữ lại lợi nhuận, trong khi khả năng Nhà nước bổ sung thêm vốn là khá hạn chế.

“Khi một nửa hệ thống ngân hàng không thể mở rộng vốn mạnh mẽ, thì tăng trưởng tín dụng cũng không thể tăng nhanh” ông Hải phân tích.

Theo ông Hải, trong bối cảnh hiện nay, hệ thống ngân hàng đã bị kéo rất căng và không thể tiếp tục duy trì tăng trưởng tín dụng ở mức 16–18% như những năm trước. Tăng trưởng tín dụng sẽ phải chậm lại để tránh đặt toàn bộ gánh nặng lên hệ thống ngân hàng.

Từ góc độ dài hạn, ông Hải cho rằng Chính phủ đã nhận diện rõ những hạn chế mang tính cấu trúc này và đang thúc đẩy hai hướng đi quan trọng.

Thứ nhất là đẩy mạnh thu hút nguồn vốn từ bên ngoài, trong đó việc xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế được xem là một giải pháp nhằm tạo kênh dẫn vốn dài hạn vào Việt Nam, qua đó giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng.

Những dự án hạ tầng như cảng biển, sân bay, cao tốc hay đường sắt có vòng quay vốn rất dài, từ 10–20 năm, nên cần nguồn vốn dài hạn từ nước ngoài. Nếu ngân hàng “chôn” vốn vào các dự án này quá lâu thì sẽ nhanh chóng gặp vấn đề về thanh khoản.

Thứ hai là phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán theo hướng minh bạch, hấp dẫn hơn để huy động nguồn vốn trung và dài hạn, không chỉ từ nhà đầu tư trong nước mà cả dòng vốn quốc tế. 

Dư địa tài khóa và vai trò của dòng vốn ngoại

Chia sẻ với người viết, chuyên gia Trần Ngọc Báu - CEO Công ty Dữ liệu Kinh tế Tài chính WiGroup, nhận định về chính sách tài khóa, Việt Nam nhiều khả năng sẽ tiếp tục nới lỏng do vẫn còn dư địa lớn. Trong khi đó, dư địa của chính sách tiền tệ được đánh giá là hạn chế hơn. 

Ông Báu lưu ý một yếu tố tích cực trong năm 2026 là dòng tiền ngoại sinh có thể cải thiện so với giai đoạn trước, nhờ áp lực tỷ giá hạ nhiệt, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho dòng vốn ngoại quay trở lại.

Ông cho biết trong khoảng 2–3 năm gần đây, Việt Nam ở trạng thái trả nợ nước ngoài ròng, khi cả Chính phủ và khu vực doanh nghiệp đều thực hiện trả nợ ròng. Tuy nhiên, đến năm 2026, áp lực trả nợ ròng này có thể sẽ không còn lớn như trước, đây là một yếu tố cần được lưu ý.

Bên cạnh đó, dòng vốn vào (inflow) được kỳ vọng sẽ cải thiện, đồng nghĩa dòng USD chảy vào Việt Nam có thể mạnh hơn. Khi USD vào nhiều, về bản chất, điều này tạo ra tác động tương tự như việc mở rộng cung tiền đồng.

Theo ông Báu, chẳng hạn, nếu khoảng 10 tỷ USD được NHNN mua vào để bổ sung dự trữ ngoại hối, lượng tiền đồng bơm ra nền kinh tế có thể lên tới khoảng 270.000 tỷ đồng. Thông qua cơ chế nhân tiền, quy mô này có thể được khuếch đại lên mức rất lớn, thậm chí đạt tới hàng triệu tỷ đồng tín dụng.

 Ông Trần Ngọc Báu, CEO Công ty Dữ liệu Kinh tế Tài chính WiGroup. (Ảnh: VNB).

Đây cũng là một trong những nguyên nhân lý giải cho việc tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động của hệ thống ngân hàng thường xuyên có độ vênh. 

Trong bối cảnh dòng vốn ngoại có thể dịch chuyển theo hướng tích cực hơn, dự trữ ngoại hối gia tăng và áp lực rút vốn suy giảm, nguồn tiền ngoại sinh được kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bổ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, ông Báu cũng cho rằng dù giải ngân đầu tư công năm vừa qua được đánh giá là mạnh, song tốc độ tăng trưởng thực tế chỉ khoảng 26–27%, tương đương với nhiều năm trước. Điều này cho thấy vẫn còn một lượng vốn đáng kể đang “kẹt” trong hệ thống ngân hàng hoặc tại NHNN. 

Theo ước tính của ông Báu, quy mô tài khoản Kho bạc Nhà nước (TGA) hiện có thể vào khoảng 500.000 tỷ đồng. Nếu lượng vốn này được kích hoạt và chuyển từ tài khoản tại NHNN sang hệ thống ngân hàng thương mại, tiền cơ sở sẽ tăng lên, qua đó tiếp tục hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống và tạo thêm dư địa cho tăng trưởng kinh tế.

Từ các yếu tố trên, ông Báu nhận định chính sách vĩ mô vẫn còn dư địa, dù không còn rộng như trước. Trong bối cảnh mới, Việt Nam có thể duy trì chính sách tiền tệ ở trạng thái nới lỏng tương đương năm 2025, song không nới lỏng thêm. Theo đó, lãi suất chính sách nhiều khả năng được giữ ổn định,nhưng thị trường có thể có áp lực tăng về chi phí vốn.

Chia sẻ thêm góc nhìn, ông Nguyễn Đức Hải cũng đồng tình rằng chính sách tài khóa còn nhiều dư địa và có thể tạo hiệu quả tức thời nếu được triển khai hiệu quả. Tuy nhiên, đối với chính sách tiền tệ, ông lưu ý rằng dòng vốn nước ngoài chảy vào chỉ giúp giảm bớt áp lực thanh khoản, chứ không đồng nghĩa NHNN sẽ chuyển toàn bộ lượng ngoại tệ này thành tiền cơ sở để bơm ra nền kinh tế.

Chuyên gia này cho rằng NHNN buộc phải thực hiện các biện pháp trung hòa đối với dòng vốn ngoại. Bài học trong quá khứ cho thấy, việc gia tăng dự trữ ngoại hối mà không có hoạt động trung hòa phù hợp có thể khiến áp lực lạm phát quay trở lại rất nhanh. Do đó, ông cho rằng cơ quan điều hành sẽ tiếp tục thận trọng trong điều hành và đưa ra chính sách phù hợp. 

Minh Nguyệt