|
 Thuật ngữ VietnamBiz
Tài chính

Chuyên gia: Hệ thống ngân hàng đang bị kéo căng quá mức, tín dụng sẽ khó tăng nhanh

07:00 | 11/01/2026
Chia sẻ
Theo ông Nguyễn Đức Hải, Giám đốc Đầu Tư Cấp Cao, Công ty quản lý Quỹ Manulife Investments Việt Nam, tăng trưởng tín dụng khó có thể duy trì mức 16 - 18% như những năm trước nếu không muốn tạo áp lực lớn lên an toàn hệ thống.

Tại chương trình Data Talk | Macro Insight: Vĩ mô 2025 - 2026 và câu hỏi lớn - Dòng tiền sẽ đi đâu? phát sóng tối 8/1, ông Nguyễn Đức Hải, Giám đốc Đầu Tư Cấp Cao, Công ty quản lý Quỹ Manulife Investments Việt Nam nhận định dư địa điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam đang thu hẹp.

Theo ông Hải, nếu nhìn vào hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay, có thể thấy hệ thống này đang bị “kéo căng” quá mức khi phải gồng gánh gần như toàn bộ vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Hiện nay, theo thống kê trên thị trường, hoạt động phát hành trái phiếu có dấu hiệu tăng trở lại. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ thì hơn 70% mức tăng trưởng đó lại đến từ trái phiếu do ngân hàng phát hành.

"Tức là các ngân hàng đi huy động vốn trên thị trường trái phiếu rồi tiếp tục cung ứng vốn trở lại cho nền kinh tế. Điều này cho thấy chúng ta đang phụ thuộc quá nhiều vào hệ thống ngân hàng cho tăng trưởng tín dụng", ông Hải nói. 

Ông Nguyễn Đức Hải, Giám đốc Đầu Tư Cấp Cao, Công ty quản lý Quỹ Manulife Investments Việt Nam. (Ảnh: VNB).

Theo ông Hải, tăng trưởng tín dụng trong thời gian tới khó có thể duy trì ở mức cao như trước. Ngân hàng là ngành kinh doanh có điều kiện, chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi các yêu cầu về an toàn vốn. Để mở rộng tín dụng, ngân hàng buộc phải gia tăng vốn chủ sở hữu nhằm đảm bảo hệ số an toàn vốn (CAR). 

Trong bối cảnh hiện nay, nhóm 4 ngân hàng thương mại Nhà nước (Big4) gần như không còn nhiều dư địa để tăng vốn. Việc tăng vốn chủ yếu dựa vào giữ lại lợi nhuận, trong khi khả năng Nhà nước bổ sung thêm vốn là khá hạn chế.

“Khi một nửa hệ thống ngân hàng không thể mở rộng vốn mạnh mẽ, thì tăng trưởng tín dụng cũng không thể tăng nhanh” ông Hải phân tích.

Ông Hải lý giải cứ mở rộng một đồng tín dụng thì ngân hàng phải bổ sung thêm khoảng 0,1 đồng vốn chủ sở hữu để đảm bảo hệ số CAR. Do đó, dư địa của chính sách tiền tệ sẽ hẹp hơn và tăng trưởng tín dụng không thể duy trì ở mức cao như trước. Thực tế cho thấy, mỗi khi tín dụng tăng mạnh, hệ thống ngân hàng lại sớm đối mặt với áp lực về nguồn vốn.

Từ góc độ dài hạn, ông Hải cho rằng Chính phủ đã nhận diện rõ những hạn chế mang tính cấu trúc này và đang thúc đẩy hai hướng đi quan trọng.

Thứ nhất là đẩy mạnh thu hút nguồn vốn từ bên ngoài, trong đó việc xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế được xem là một giải pháp nhằm tạo kênh dẫn vốn dài hạn vào Việt Nam, qua đó giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng.

Những dự án hạ tầng như cảng biển, sân bay, cao tốc hay đường sắt có vòng quay vốn rất dài, từ 10–20 năm, nên cần nguồn vốn dài hạn từ nước ngoài. Nếu ngân hàng “chôn” vốn vào các dự án này quá lâu thì sẽ nhanh chóng gặp vấn đề về thanh khoản.

Thứ hai là phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán theo hướng minh bạch, hấp dẫn hơn để huy động nguồn vốn trung và dài hạn, không chỉ từ nhà đầu tư trong nước mà cả dòng vốn quốc tế. 

Theo ông Hải, trong bối cảnh hiện nay, hệ thống ngân hàng đã bị kéo rất căng và không thể tiếp tục duy trì tăng trưởng tín dụng ở mức 16–18% như những năm trước. Tăng trưởng tín dụng sẽ phải chậm lại để tránh đặt toàn bộ gánh nặng lên hệ thống ngân hàng.

Minh Nguyệt