Sửa đổi Luật Dầu khí được thông qua, cổ phiếu nào hưởng lợi lớn nhất?
Sáng ngày 23/8 vừa qua, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi).
Luật tập trung vào việc tăng phân cấp, phân quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam); bổ sung chính sách ưu đãi đối với mỏ nhỏ, cận biên, nước sâu xa bờ và khai thác tận thu; đồng thời mở rộng hành lang pháp lý cho thu giữ, lưu trữ CO₂ (CCS), dịch vụ dầu khí công nghệ cao và năng lượng ngoài khơi.
Theo CTCP Chứng khoán Rồng Việt (VDSC - Mã: VDS), các sửa đổi hướng tới tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực thi Luật Dầu khí 2022, tập trung vào tăng phân cấp, đơn giản hóa thủ tục và cải thiện cơ chế đầu tư, qua đó hỗ trợ chu kỳ đầu tư thượng nguồn trong trung và dài hạn.
Có thể rút ngắn quá trình phát triển mỏ, cải thiện hiệu quả khai thác
Theo VDSC, phát hiện dầu khí mới chỉ là bước đầu trong quá trình chuyển hóa tài nguyên thành sản lượng thương mại. Sau thăm dò và thẩm lượng, dự án vẫn phải trải qua các bước xác nhận tài nguyên - trữ lượng, lập và phê duyệt kế hoạch phát triển mỏ, quyết định đầu tư và xây dựng trước khi đưa vào khai thác.
Việc trao thêm thẩm quyền cho Petrovietnam trong phê duyệt báo cáo tài nguyên, trữ lượng và một số kế hoạch phát triển mỏ có thể giảm các bước trung gian, đặc biệt đối với các mỏ/phát hiện đáp ứng điều kiện phân cấp theo quy định.
Một số phát hiện gần đây như Rồng Đôi Mới và TU-14X nằm tại các khu vực đã có hạ tầng dầu khí hiện hữu, qua đó tạo thêm điều kiện thuận lợi cho quá trình thương mại hóa nếu kết quả thẩm lượng và hiệu quả kinh tế đáp ứng yêu cầu. VDSC cho rằng giá trị của Luật Dầu khí sửa đổi nằm ở khả năng hỗ trợ rút ngắn quá trình chuyển tài nguyên phát hiện thành dự án thương mại và sản lượng khai thác.
Luật Dầu khí sửa đổi còn hướng tới cải thiện tính kinh tế của các nguồn tài nguyên khó thương mại hóa thông qua cơ chế cho mỏ cận biên, nâng cao hệ số thu hồi dầu khí và khai thác tận thu.
Đồng thời bổ sung cơ chế hợp nhất các phát hiện hoặc mỏ tại các lô liền kề để cùng thẩm lượng, phát triển, qua đó tối ưu hạ tầng và cải thiện hiệu quả kinh tế; đồng thời cho phép thực hiện một số hoạt động chuyển tiếp giữa hợp đồng dầu khí cũ và mới nhằm hạn chế gián đoạn khai thác.
Ảnh minh hoa. (Nguồn: Petrovietnam).
Các cơ chế này có ý nghĩa trong bối cảnh nhiều mỏ dầu khí hiện hữu tại Việt Nam đã bước vào giai đoạn khai thác trưởng thành và sản lượng suy giảm tự nhiên. Khi dư địa khai thác theo phương pháp thông thường giảm dần, các giải pháp như khoan bổ sung, can thiệp/sửa chữa giếng và nâng cao hệ số thu hồi ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sản lượng.
Theo đó, VDSC cho rằng Luật sửa đổi không chỉ hỗ trợ thương mại hóa các mỏ mới có quy mô nhỏ/cận biên mà còn có thể kéo dài vòng đời khai thác và gia tăng nhu cầu dịch vụ tại các mỏ hiện hữu.
Khung pháp lý mới hỗ trợ chu kỳ tăng đầu tư thăm dò - khai thác
Thông tin từ VDSC, Luật Dầu khí (sửa đổi) không phải yếu tố tạo ra chu kỳ đầu tư mới, mà đóng vai trò hỗ trợ tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục và hiệu quả dự án, qua đó có thể hỗ trợ tiến độ triển khai và giải ngân vốn đầu tư vào các hoạt động thăm dò, phát triển mỏ.
Việc duy trì tốc độ giải ngân cao, kết hợp với hành lang pháp lý thuận lợi hơn, được kỳ vọng tạo thêm khối lượng công việc cho các doanh nghiệp dịch vụ dầu khí trong những năm tới.
Mở rộng hành lang pháp lý sang các lĩnh vực năng lượng mới. Bên cạnh các sửa đổi đối với hoạt động thăm dò - khai thác truyền thống, Luật bổ sung khung pháp lý cho thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), đồng thời mở rộng phạm vi sang chuỗi giá trị dầu khí, dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi.
Hoạt động CCS được định hướng tận dụng dữ liệu, hạ tầng và các công trình dầu khí hiện hữu để phục vụ lưu trữ CO₂, qua đó mở ra khả năng hình thành các lĩnh vực kinh doanh mới gắn với năng lực và cơ sở hạ tầng sẵn có của ngành dầu khí.
PVD, PVS được đánh giá hưởng lợi rõ nét nhất
Theo VDSC, PVD và PVS là hai doanh nghiệp niêm yết có khả năng hưởng lợi rõ nét nhất nếu các thay đổi của Luật hỗ trợ đẩy nhanh hoạt động thăm dò - phát triển mỏ.
Nguồn: VDSC.
Đối với PVD, gia tăng hoạt động thăm dò, thẩm lượng và phát triển mỏ sẽ thúc đẩy nhu cầu giàn khoan và dịch vụ kỹ thuật giếng khoan. Các hoạt động nâng cao hệ số thu hồi và kéo dài vòng đời mỏ cũng có thể gia tăng nhu cầu khoan bổ sung và sửa chữa giếng.
Nhu cầu trong nước hiện đã có dấu hiệu cải thiện, thể hiện qua các hợp đồng phục vụ chiến dịch khoan năm 2026 của PVD tại Lô 15-1, Lô 12/11 và mỏ Hải Sư Đen.
Về phía PVS, tác động có thể đến muộn hơn khi các dự án chuyển sang giai đoạn phát triển mỏ, qua đó tạo thêm cơ hội cho mảng thiết kế, mua sắm, xây lắp và dịch vụ công trình biển.
Về dài hạn, việc mở rộng hành lang pháp lý sang năng lượng ngoài khơi và CCS cũng có thể mở rộng dư địa công việc cho PVS dựa trên năng lực cơ khí chế tạo và xây lắp ngoài khơi hiện hữu. Tuy nhiên, VDSC chưa xem đây là động lực lợi nhuận đáng kể trong ngắn hạn.
GAS có thể hưởng lợi gián tiếp trong trung - dài hạn nếu các phát hiện khí được thương mại hóa và bổ sung nguồn khí nội địa cho hệ thống thu gom, vận chuyển và phân phối.
Trong khi đó, tác động trực tiếp đối với PVT, BSR, PLX và OIL tương đối hạn chế do hoạt động kinh doanh chính nằm ở các khâu sau của chuỗi giá trị.
Bên cạnh các tác động đối với nhóm doanh nghiệp niêm yết, VDSC cho rằng việc duy trì tốc độ giải ngân đầu tư thượng nguồn, kết hợp với hành lang pháp lý thuận lợi hơn, sẽ là yếu tố quan trọng tạo thêm khối lượng công việc cho các doanh nghiệp dịch vụ dầu khí trong những năm tới.
TRỰC TIẾP