Động lực nào để nền kinh tế 'phi nước đại' năm 2026?
Nhân dịp đầu năm mới Bính Ngọ, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương xoay quanh chủ đề: Động lực nào để nền kinh tế có thể "phi nước đại" trong năm 2026 và các năm tiếp theo.
PV: Thưa ông, Việt Nam đang hướng tới kỷ nguyên tăng trưởng cao từ năm 2026. Vậy đâu sẽ là những động lực chính để nền kinh tế có thể “phi nước đại” trong các năm tới?
TS. Nguyễn Đức Hiển: Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số” 2026-2030 và tiếp tục tăng trưởng cao trong những năm tiếp theo. Đây là yêu cầu không thể chậm trễ, cần phải thực hiện thành công, là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định để ngăn chặn nguy cơ tụt hậu và hiện thực hóa mục tiêu, tầm nhìn đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.
Một điều rõ ràng là kinh tế Việt Nam sẽ không thể tăng tốc bứt phá nếu vẫn tiếp tục duy trì cách thức tăng trưởng cũ, hay nói cách khác là không thể duy trì mô hình tăng trưởng truyền thống để tạo ra đột phá về tăng trưởng kinh tế.
Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu không thể khác là phải đổi mới mô hình, cách thức tăng trưởng kinh tế gắn với đột phá về năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia dựa trên động lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong đó xác lập 4 động lực tăng trưởng chiến lược, quan trọng gồm:
Thứ nhất, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước mạnh. Doanh nghiệp trong nước mạnh giúp Việt Nam giảm sự phụ thuộc chiến lược vào doanh nghiệp, thị trường nước ngoài.
Trong đó, kinh tế nhà nước nói chung, các doanh nghiệp nhà nước nói riêng giữ vai trò động lực chủ đạo của mô hình tăng trưởng kinh tế, tiên phong kiến tạo phát triển, định hướng, dẫn dắt, thúc đẩy thị trường, chuỗi cung ứng, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Kinh tế tư nhân phát huy đúng vai trò “là một động lực tăng trưởng quan trọng nhất” như Nghị quyết số 68-NQ/TW (2025) đã xác định, đồng thời đóng góp chủ đạo tạo đột phá trong phát triển hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hình thành đội ngũ doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, có năng lực đổi mới sáng tạo và vươn tầm thế giới, tham gia sâu và làm chủ các công đoạn quan trọng trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Thứ hai, thúc đẩy mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trở thành động lực chính cho tăng trưởng và phát triển kinh tế tri thức, qua đó tạo đột phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả của kinh tế quốc gia.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trực tiếp đóng góp vào tăng trưởng kinh tế đất nước thông qua đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), năng suất lao động của tổng thể.
Trong giai đoạn tới, Việt Nam cần tập trung nguồn lực, ưu tiên phát triển công nghệ nền tảng, công nghệ chiến lược như công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn; công nghệ xanh, công nghệ năng lượng; công nghệ vật liệu mới, sinh học, tự động hóa;.... nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, cải thiện năng lực tự chủ chiến lược, tự cường về kinh tế và công nghệ. Trong đó, đổi mới sáng tạo giữ vai trò trung tâm thúc đẩy động lực tăng trưởng nội sinh. Kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng quan trọng, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế thông qua sự phát triển của kinh tế số lõi (công nghệ số, nền tảng số).
Thứ ba, động lực tăng trưởng từ “thị trường cân bằng”, nghĩa là phát huy hiệu quả, đồng thời sức mạnh, tiềm năng từ cả thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước.
Trong đó, xuất khẩu - vốn là một động lực quan trọng trong mô hình tăng trưởng “dựa vào xuất khẩu” của Việt Nam - động lực tăng trưởng trong giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp phải từ sự chuyển dịch mạnh chiến lược xuất khẩu, từ mở rộng quy mô sang nâng cao mức độ tự chủ, chất lượng, hiệu quả, khả năng thích ứng gắn với gia tăng giá trị và hàm lượng giá trị trong nước của hàng hóa và dịch vụ xuất.
Thị trường trong nước, giai đoạn 2026 - 2030, được xác định là một động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế nhanh, ổn định và bền vững và nâng cao tính tự chủ, khả năng chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động nhanh, phức tạp, khó lường.
“Thị trường cân bằng” thể hiện ở chỗ, thị trường trong nước giữ vai trò nền tảng ổn định, lâu dài còn thị trường xuất khẩu là động lực mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo sức ép tích cực cho doanh nghiệp trong nước ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để thích ứng, tận dụng cơ hội từ bên ngoài.
Sự kết hợp hiệu quả cả hai thị trường sẽ tạo nên sức mạnh cộng hưởng, “động lực kép” giúp hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số” gắn với cải thiện năng lực tự chủ và thích ứng của nền kinh tế, doanh nghiệp dân tộc trong bối cảnh mới.
Thứ tư, các mô hình kinh tế mới. Giai đoạn 2026–2030, việc xác lập các mô hình kinh tế mới, các ngành, lĩnh vực mới là một động lực tăng trưởng mang tính đột phá, góp phần chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, từ dựa chủ yếu vào khai thác các tài nguyên hữu hạn sang nhận diện và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên mới, nhiều tiềm năng (như dữ liệu, thời gian, tài sản và phụ phẩm chưa sử dụng hết, tài nguyên thiên nhiên tái tạo được,...) trên nền tảng ứng dụng tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trọng tâm là hiện thực hóa các tư duy kinh tế mới thành các mô hình kinh tế - kinh doanh có giá trị gia tăng cao, đa dụng, tác động lan tỏa nhanh, tích cực, sâu rộng đối với quản trị quốc gia, các ngành sản xuất, chuỗi giá trị và tiêu dùng; phát triển mạnh mẽ các mô hình và phương thức kinh tế mới như kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, kinh tế không gian vũ trụ và không gian tầm thấp,…
Ngoài ra, nếu nhìn từ góc độ các ngành kinh tế, một số ngành, lĩnh vực, yếu tố mới, có nhiều tiềm năng phát triển và có thể tạo ra tăng trưởng đột phá như tiềm năng từ lĩnh vực công nghiệp văn hóa và du lịch; thương mại điện tử; vận tải, kho bãi và logistics, bao gồm cả hoạt động logistics khai thác không gian kinh tế tầm thấp; dịch vụ tài chính chất lượng cao; các ngành công nghiệp công nghệ số, công nghệ mới/hiện đại; công nghiệp hỗ trợ; năng lượng tái tạo; nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;…
Nhìn từ phía các yếu tố sản xuất, trong giai đoạn 2026-2030, cùng với TFP, vốn đầu tư phát triển vẫn sẽ tiếp tục phát huy vai trò động lực tăng trưởng quan trọng, nhu cầu vốn đầu tư cần rất lớn.
TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương. (Ảnh: NVCC).
PV: Trong một cuộc đua, người chiến thắng không chỉ cần bứt tốc đúng thời điểm mà cần có sức bền tốt. Vậy về dài hạn, nền kinh tế cần những yếu tố gì để “chạy đường dài” mà không “hụt hơi”?
TS. Nguyễn Đức Hiển: Tăng trưởng cao là yêu cầu tất yếu đã được xác định cho giai đoạn 2026-2030, tuy nhiên, không phải chúng ta chỉ “dồn lực” để đạt được tăng trưởng cao trong giai đoạn này mà hướng tới tăng trưởng cao ổn định và chất lượng trong giai đoạn dài. Đây là một mục tiêu rất thách thức trong bối cảnh nguồn lực cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước còn hạn chế.
Để đạt được mục tiêu đường dài, yêu cầu đầu tiên, tất yếu, đó là phải thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng với đầy đủ các điều kiện và 4 động lực tăng trưởng cốt yếu đã nêu. Bên cạnh đó, phải đổi mới mạnh mẽ tư duy và đột phá về thể chế phát triển, chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển.
Đồng thời, nhấn mạnh tư duy “lấy phát triển để ổn định và ổn định để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển nhanh, bền vững đất nước”.
Tăng trưởng kinh tế cao chỉ có thể duy trì liên tục trong cả giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp theo khi được đặt trên nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định. Yêu cầu ổn định giúp ngăn ngừa xu hướng chạy theo thành tích tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, đặt nền kinh tế vào rủi ro tăng trưởng nóng, tổn phí về môi trường, xã hội và an ninh kinh tế.
Ngược lại, ổn định phải là kết quả của phát triển đúng hướng, hiệu quả và bền vững. Song song, thực hiện đồng bộ 4 chuyển đổi bao gồm chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực.
PV: Năm 2026, nền kinh tế vẫn được dự báo phải đối mặt với những ảnh hưởng bên ngoài từ bối cảnh thế giới, những diễn biến khó lường này sẽ đến từ đâu, thưa ông?
TS. Nguyễn Đức Hiển: Kinh tế Việt Nam năm 2025 đã vượt qua nhiều “cơn gió ngược” từ bối cảnh trong nước và quốc tế để đạt được tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất khu vực và thế giới. Bước sang năm 2026, các rủi ro từ bên ngoài liên quan đến thương mại, nợ công và bất ổn địa kinh tế, chính trị toàn cầu sẽ là điều kiện bất lợi, có thể ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10% đã đặt ra của Việt Nam.
Rủi ro lớn nhất đối từ kinh tế toàn cầu trong năm nới được xác định chính là từ xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại và căng thẳng thương mại, đặc biệt xoay quanh chính sách thuế quan của Mỹ, vốn đã khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh và buộc các chuỗi cung ứng phải điều chỉnh.
Căng thẳng thương mại có thể xảy ra ở mức độ mạnh hơn, rộng hơn, bộc lộ tác động rõ ràng hơn trong năm 2026. Bên cạnh đó, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc dự báo tiếp tục gia tăng, nhất là liên quan đến chuỗi cung ứng đất hiếm.
Dù hai bên đạt được thỏa thuận “đình chiến thuế quan” tạm thời trong năm 2026, nhưng thỏa thuận này rất mong manh và nguy cơ áp đặt các rào cản phi thuế quan vẫn rất lớn.
Điều này có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) và hoạt động xuất khẩu vốn là hai trụ cột tăng trưởng chính của Việt Nam. Việc phụ thuộc nhiều vào tăng trưởng thương mại theo chiều rộng khiến Việt Nam chịu rủi ro từ việc áp đặt rào cản thuế quan và biến động của các thị trường lớn.
Tình trạng phân mảnh hệ thống thương mại quốc tế cũng có nguy cơ làm tăng chi phí tuân thủ và thay đổi cấu trúc thị trường xuất khẩu của Việt Nam. Các tổ chức quốc tế dự báo tăng trưởng thương mại toàn cầu năm 2026 vẫn sẽ ở mức khiêm tốn.
Theo đó, Việt Nam khó có thể thúc đẩy tăng trưởng mạnh xuất khẩu nếu chỉ dựa chủ yếu vào mô hình xuất khẩu theo chiểu rộng truyền thống, mà cần chủ động chuyển dịch và nâng cao chất lượng xuất khẩu, hướng vào lõi công nghiệp hóa, giá trị gia tăng cao, nâng cấp vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời kích hoạt mạnh mẽ các động lực nội địa.
Tiếp đó là các rủi ro liên quan đến nợ toàn cầu. Năm 2025, nợ toàn cầu đã đạt mức cao kỷ lục với tổng nợ thế giới đã tăng lên hơn 346.000 tỷ USD, tương đương 310% GDP toàn cầu. Gánh nặng nợ, chủ yếu từ nợ công, gia tăng ở cả các nền kinh tế phát triển và mới nổi, làm gia tăng nguy cơ khủng hoảng nợ tại nhiều quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh chi phí vay vốn vẫn ở mức cao.
Đồng thời, triển vọng kinh tế toàn cầu và một số nền kinh tế lớn, đối tác chiến lược, quan trọng của Việt Nam chưa có dấu hiệu khởi sắc. Trong đó, kinh tế Mỹ dự báo có nhiều bất định, chưa thể phục hồi tăng trưởng; kinh tế Trung Quốc đang hướng tới mức tăng trưởng khoảng 5% trong năm 2026, song tiếp tục chịu tác động tiêu cực từ sự suy yếu kéo dài của thị trường bất động sản cộng hưởng với các vấn đề mang tính cấu trúc của nền kinh tế như già hóa dân số, hiệu suất sử dụng vốn suy giảm và tình trạng dư thừa công suất trong nhiều ngành công nghiệp vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Ngoài ra, một rủi ro đáng chú ý là lo ngại “bong bóng” tài sản công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI). Công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn được xem là một trong những động lực quan trọng nhất cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026. Làn sóng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh trong năm 2026, các tập đoàn công nghệ lớn của Mỹ thúc đẩy xây dựng và mở rộng hạ tầng, đặc biệt là các trung tâm dữ liệu quy mô lớn.
Cổ phiếu công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực AI theo đó tăng trưởng mạnh trong bối cảnh hiệu quả sinh lời của các khoản đầu tư AI vẫn chưa được chứng minh rõ ràng, dẫn đến nguy cơ hình thành bong bóng tài sản công nghệ và có thể dẫn tới làn sóng điều chỉnh mạnh nếu kỳ vọng đảo chiều.
Ngoài ra, các rủi ro địa chính trị năm 2026 vẫn tiếp tục phủ bóng lên triển vọng kinh tế toàn cầu. Căng thẳng Nga–Ukraine chưa có dấu hiệu hạ nhiệt; cùng với xung đột kéo dài tại Trung Đông và cạnh tranh chiến lược Mỹ–Trung tiếp tục tạo ra diễn biến khó lường cho tình hình địa chính trị toàn cầu.
PV: Việt Nam đang có tốc độ làm chính sách nhanh và các chính sách rất đột phá. Ông đánh giá sao về quyết tâm xây dựng một hành lang thông thoáng, một thể chế kiến tạo cho doanh nghiệp? Đặc biệt là những doanh nghiệp có mục tiêu vươn tầm quốc tế.
TS. Nguyễn Đức Hiển: Với tư duy thể chế phải đi trước, mở đường cho đột phá về tăng trưởng, Việt Nam đã và đang thực hiện cuộc cách mạng về cải cách thể chế, chính sách, quyết tâm xây dựng hệ thống thể chế kiến tạo, tạo lập môi trường kinh doanh và đầu tư thực sự thuận lợi, ổn định, minh bạch, an toàn và cạnh tranh gắn với xây dựng kỷ luật pháp quyền và kỷ luật thực thi; lấy hiệu quả, thời gian và chi phí của người dân và doanh nghiệp làm thước đo đánh giá,… theo đúng tinh thần mà Tổng bí thư Tô Lâm đã nêu, đó là“lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả cụ thể”, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng và phát huy vai trò Nhà nước kiến tạo phát triển.
Theo đó, chỉ từ cuối năm 2024 và năm 2025, nhiều quyết sách chiến lược, đột phá, quan trọng được ban hành. Trong đó, Trung ương đã ban hành 7 Nghị quyết lớn, quan trọng; Quốc hội thông qua 51 luật, 8 Nghị quyết ngay tại kì họp thứ 10; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 377 Nghị định, 536 Nghị quyết, 3.134 Quyết định và 280 Chỉ thị, Công điện để hoàn thiện thể chế, pháp luật. Quyết liệt thực hiện công cuộc “sắp xếp lại giang sơn”, tinh gọn bộ máy, tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Bứt phá phát triển cơ sở hạ tầng với hàng loạt các dự án chiến lược quy mô lớn, quan trọng, có tính lan tỏa và định hình cho tương lai được triển khai,… Ngay trong đầu năm 2026, Trung ương tiếp tục ban hành hai Nghị quyết lớn.
Đây là các bước đi mạnh mẽ, quyết liệt của Việt Nam, thể hiện rõ sự thay đổi tư duy từ quản lý sang chủ động kiến tạo, nhiều cơ chế đặc thù, vượt trội, cơ chế thử nhiệm, sanbox được ban hành và triển khai thực hiện. Nghị quyết 68-NQ/TW về thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân cùng với Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước vừa được ban hành và một loạt các Nghị quyết trụ cột khác giúp khơi thông các điểm nghẽn, xóa bỏ rào cản, tạo dựng một hành lang thể chế thông thoáng, kiến tạo cho doanh nghiệp Việt phát triển, vươn tầm thế giới.
Trong đó, phát huy vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp, tập đoàn tư nhân mạnh và các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước lớn trong phát triển và vươn tầm thế giới.
PV: Trân trọng cảm ơn ông!
