Các ngân hàng đang cấp vốn cho PNJ theo hình thức nào?
Trong cơ cấu vốn của CTCP Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ), vốn vay ngân hàng chiếm một tỷ trọng đáng chú ý và toàn bộ đều là vay ngắn hạn. Nhìn vào báo cáo tài chính hợp nhất tại hai thời điểm gần nhất là cuối năm 2025 và cuối quý I/2026 có thể thấy rõ bức tranh về việc các ngân hàng thương mại đang tài trợ vốn cho doanh nghiệp này như thế nào.
Toàn bộ là vay ngắn hạn, phục vụ vốn lưu động
Theo thuyết minh báo cáo tài chính, các khoản vay ngân hàng của PNJ đều là vay ngắn hạn với mục đích bổ sung vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Thời hạn của từng khoản vay thay đổi tùy theo lần giải ngân cụ thể. Doanh nghiệp không ghi nhận bất kỳ khoản vay và nợ thuê tài chính dài hạn nào tại cả hai thời điểm 31/12/2025 và 31/3/2026.
Tại ngày 31/12/2025, tổng dư nợ vay ngân hàng ngắn hạn của PNJ là 4.223 tỷ đồng. Đến ngày 31/3/2026, con số này giảm xuống còn 2.894 tỷ đồng, tức giảm hơn 1.300 tỷ đồng chỉ sau một quý. Trong suốt cả hai kỳ báo cáo, PNJ xác nhận không vi phạm bất kỳ cam kết nào đối với các khoản vay ngân hàng.
Nhìn vào cơ cấu chi tiết, dư nợ vay ngân hàng của PNJ được chia thành hai nhóm rõ rệt: vay tín chấp (không có tài sản đảm bảo) và vay có tài sản đảm bảo bằng hàng tồn kho.
Các khoản vay ngân hàng ngắn hạn của PNJ tại 31/12/2025. Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025.
Các khoản vay ngân hàng ngắn hạn của PNJ tại 31/3/2026. Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026.
Nhóm cho vay tín chấp: HSBC, Keb Hana Bank, ACB
Tại thời điểm 31/12/2025, có ba ngân hàng cho PNJ vay tín chấp.
Ngân hàng TNHH MTV HSBC (Việt Nam): dư nợ 12 tỷ đồng, lãi suất áp dụng từ 4,8% đến 6%/năm.
Ngân hàng Keb Hana Bank - Chi nhánh TP HCM: dư nợ 180 tỷ đồng, lãi suất 4,3%/năm.
Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB): dư nợ 500 tỷ đồng, lãi suất từ 4,8% đến 5,5%/năm.
Đến ngày 31/3/2026, cả ba ngân hàng này vẫn tiếp tục cấp tín dụng tín chấp cho PNJ, nhưng số dư và lãi suất đã có sự điều chỉnh.
HSBC (Việt Nam): dư nợ cuối kỳ tăng mạnh lên 53 tỷ đồng, lãi suất tăng lên 6,9%/năm.
Keb Hana Bank - TP HCM: dư nợ giữ nguyên ở mức 180 tỷ đồng, lãi suất không đổi, vẫn 4,3%/năm.
ACB: dư nợ giảm nhẹ xuống 458 tỷ đồng, lãi suất tăng lên 5,5%/năm (so với mức 4,8% - 5,5% cuối năm 2025).
Như vậy, trong nhóm vay tín chấp, lãi suất tại hai ngân hàng HSBC và ACB đều có xu hướng tăng lên trong quý I/2026, trong khi mức vay tại Keb Hana Bank giữ nguyên cả về số dư lẫn lãi suất.
Nhóm cho vay có tài sản đảm bảo bằng hàng tồn kho
Phần lớn dư nợ vay ngắn hạn của PNJ đến từ nhóm các ngân hàng cho vay có tài sản đảm bảo, với tài sản thế chấp là hàng tồn kho của Tập đoàn.
Tại ngày 31/12/2025, có 4 ngân hàng cho vay có đảm bảo bằng hàng tồn kho.
Ngân hàng TNHH MTV Woori Việt Nam: 161 tỷ đồng
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank): 571 tỷ đồng.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV): 1.000 tỷ đồng.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank): 1.799 tỷ đồng.
Tổng giá trị hàng tồn kho được PNJ sử dụng làm tài sản đảm bảo tại thời điểm này, tính theo giá trị sổ sách, tương đương đúng bằng tổng dư nợ vay ngân hàng ngắn hạn: 4.223 tỷ đồng.
Đến ngày 31/3/2026, cơ cấu nhóm cho vay có đảm bảo bằng hàng tồn kho thay đổi cả về số dư lẫn lãi suất.
Ngân hàng TNHH MTV Woori Việt Nam: dư nợ giữ nguyên 161 tỷ đồng, lãi suất 6,1%/năm.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) - Chi nhánh Hóc Môn: 908 tỷ đồng, lãi suất 4,9%/năm.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank): 756 tỷ đồng, lãi suất 6,6%/năm.
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank): 378 tỷ đồng, lãi suất 6,5%/năm.
Có thể thấy, dư nợ tại BIDV giảm từ 1.000 tỷ đồng xuống còn 908 tỷ đồng; dư nợ tại Vietcombank giảm sâu từ 1.799 tỷ đồng xuống còn 756 tỷ đồng; dư nợ tại Vietinbank giảm từ 571 tỷ đồng xuống còn 378 tỷ đồng. Riêng khoản vay tại Woori Việt Nam không thay đổi về số dư.
Giá trị hàng tồn kho được PNJ dùng làm tài sản thế chấp tại ngày 31/3/2026 được thuyết minh là 4.361 tỷ đồng - cao hơn tổng dư nợ vay ngắn hạn có đảm bảo cộng dồn từ 4 ngân hàng nói trên (2.203 tỷ đồng).
Lãi suất vay trong nhóm có tài sản đảm bảo tại quý I/2026 dao động từ 4,3% đến 6,9%/năm tùy ngân hàng và hợp đồng cụ thể, và các khoản vay này có ngày đáo hạn trải dài từ tháng 4/2026 đến tháng 6/2026.
Để hình dung rõ hơn tài sản nào đang được PNJ dùng để thế chấp, cần nhìn vào cơ cấu tổng thể hàng tồn kho của tập đoàn.
Tính đến ngày 31/3/2026, hàng tồn kho của PNJ bao gồm: thành phẩm (chiếm tỷ trọng lớn nhất, hơn 7.291 tỷ đồng), hàng hóa (hơn 3.472 tỷ đồng), nguyên vật liệu (hơn 2.199 tỷ đồng) và chi phí sản xuất kinh doanh dở dang (hơn 452 tỷ đồng).
Giá trị thuần của hàng tồn kho sau khi trừ dự phòng giảm giá tại ngày 31/3/2026 là 13.419 tỷ đồng. Tại ngày 31/3/2026, Tập đoàn trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho các mặt hàng hư hỏng hoặc kém phẩm chất ở mức 42 tỷ đồng.
Ngoài hàng tồn kho, PNJ còn thế chấp cả tài sản cố định
Bên cạnh hàng tồn kho, thuyết minh trong báo cáo cho biết PNJ còn sử dụng tài sản cố định làm tài sản thế chấp cho các khoản vay ngân hàng thương mại. Tại ngày 31/3/2026, Tập đoàn xác nhận vẫn đang duy trì việc sử dụng tài sản cố định làm tài sản thế chấp song song với hàng tồn kho.
Tài sản cụ thể nhất được nêu tên trong thuyết minh là quyền sử dụng đất tại số 52L-52M Nguyễn Văn Trỗi, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP HCM. Tài sản này được dùng để đảm bảo cho các khoản vay của cả tập đoàn và công ty TNHH Một thành viên Chế tác và Kinh doanh Trang sức PNJ (PNJ JP).
Về quy mô, tại ngày 31/3/2026, tài sản cố định hữu hình của PNJ, gồm nhà cửa vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải và thiết bị văn phòng, có tổng giá trị còn lại 246 tỷ đồng. Tài sản cố định vô hình, chủ yếu là quyền sử dụng đất và phần mềm máy tính, có tổng giá trị còn lại 668 tỷ đồng, trong đó riêng quyền sử dụng đất chiếm phần lớn với giá trị sổ sách hơn 634 tỷ đồng.
Tổng hợp lại, các ngân hàng đang cấp vốn cho PNJ theo hai hình thức song song, đều dưới dạng vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động.
Thứ nhất là hình thức tín chấp, không yêu cầu tài sản đảm bảo, hiện diện tại ba ngân hàng: HSBC (Việt Nam), Keb Hana Bank chi nhánh TP HCM và ACB. Nhóm này chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong tổng dư nợ vay ngân hàng của PNJ.
Thứ hai là hình thức cho vay có tài sản đảm bảo, chiếm tỷ trọng lớn hơn, với tài sản thế chấp chủ yếu là hàng tồn kho, hiện diện tại 4 ngân hàng: Woori Việt Nam, Vietinbank, BIDV và Vietcombank.
Ngoài hàng tồn kho, PNJ còn dùng tài sản cố định, trong đó nổi bật là quyền sử dụng đất tại mặt bằng kinh doanh chính ở Phú Nhuận, TP HCM làm tài sản thế chấp bổ sung cho nghĩa vụ tín dụng nói chung.
Xét theo diễn biến từ cuối năm 2025 sang quý I/2026, tổng dư nợ vay ngân hàng ngắn hạn của PNJ giảm từ 4.223 tỷ đồng xuống còn 2.894 tỷ đồng.
Trong đó, dư nợ tại nhóm ngân hàng cho vay có tài sản đảm bảo giảm rõ rệt hơn so với nhóm tín chấp, đặc biệt là tại Vietcombank và Vietinbank, trong khi lãi suất tại phần lớn các ngân hàng, cả tín chấp lẫn có đảm bảo, lại có xu hướng tăng lên so với cuối năm 2025.
TRỰC TIẾP