Từ cơ chế đa tiền tệ đến 'vành đai kiểm soát' ngoại hối để VIFC-HCMC có 'dòng vốn thật, sản phẩm thật'
Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP HCM (VIFC-HCMC) là bước đi chiến lược nhằm tạo lập một không gian tài chính có tính cạnh tranh khu vực và quốc tế, thu hút dòng vốn chất lượng cao, dòng vốn dài hạn, dòng vốn xanh, vốn đầu tư tổ chức, quỹ đầu tư, định chế tài chính và các sản phẩm tài chính thế hệ mới.
Tuy nhiên, để VIFC-HCMC vận hành thực chất như một trung tâm tài chính quốc tế, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về ngoại hối theo hướng thông thoáng hơn, có kiểm soát hơn và trao quyền chủ động nhiều hơn cho Cơ quan điều hành VIFC.
"Nếu vẫn bị ràng buộc như thị trường nội địa, VIFC rất khó tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc tế", đó là nhận định của PGS. TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC, khi trao đổi với chúng tôi về vấn đề này.
- Thưa ông, VIFC-HCMC đã vận hành nhưng dường như chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng? Điểm nghiẽn lớn nhất của trung tâm này là gì?, thưa ông?
PGS. TS Nguyễn Hữu Huân: Khó khăn lớn nhất hiện nay của VIFC-HCMC không phải là thiếu sự quan tâm của nhà đầu tư quốc tế, cũng không phải thiếu ý tưởng sản phẩm hay thiếu nhu cầu thị trường. Ngược lại, sự quan tâm của các định chế tài chính, ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty fintech, các nhà đầu tư trong lĩnh vực tài chính xanh, tài chính hàng không, tài chính hàng hải và tài sản số là rất lớn.
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở khung pháp lý vận hành chi tiết. Chúng ta đã có chủ trương, có định hướng, có một số cơ chế nền tảng, nhưng để một trung tâm tài chính quốc tế vận hành thực chất thì cần các quy định cụ thể hơn về ngoại hối, tài khoản vốn, giao dịch đa tiền tệ, phát hành sản phẩm tài chính, thuế, kế toán, lưu ký, thanh toán bù trừ, giải quyết tranh chấp, cơ chế sandbox, chuẩn mực phòng chống rửa tiền và phân quyền cho Cơ quan điều hành VIFC.
Một trung tâm tài chính quốc tế chỉ thật sự hấp dẫn khi nhà đầu tư nhìn thấy ba yếu tố: Một là tiền có thể vào thuận lợi; hai là sản phẩm tài chính có thể triển khai minh bạch, hợp pháp; ba là vốn, lợi nhuận và tài sản có thể được chuyển ra theo quy định rõ ràng, ổn định và dự đoán được. Nếu những yếu tố này chưa được cụ thể hóa thì các nhà đầu tư sẽ vẫn quan sát, tìm hiểu, ký biên bản ghi nhớ, nhưng chưa thể mạnh dạn triển khai giao dịch quy mô lớn.
Khó khăn lớn nhất hiện nay có thể tóm gọn là: Độ mở của thể chế chưa theo kịp kỳ vọng vận hành của một trung tâm tài chính quốc tế. VIFC-HCMC cần được trao cơ chế đặc thù rõ hơn, mạnh hơn, có tính thực thi cao hơn để chuyển từ giai đoạn khởi động, xúc tiến và cam kết sang giai đoạn có giao dịch thật, sản phẩm thật, dòng vốn thật.
- Tại sao VIFC cần được xác định là một "không gian pháp lý tài chính riêng biệt" thay vì chỉ là một khu vực địa lý đơn thuần? Nếu áp dụng máy móc quy định ngoại hối hiện hành, VIFC sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh gì so với Singapore hay Hong Kong?
PGS. TS Nguyễn Hữu Huân: Nếu VIFC vẫn bị ràng buộc như thị trường nội địa thông thường thì rất khó tạo ra lợi thế cạnh tranh so với Singapore, Hong Kong, Dubai hay Abu Dhabi. Để vận hành hiệu quả, tôi đề xuất 15 kiến nghị với trọng tâm xoay quanh ba nhóm vấn đề lớn.
Nhóm thứ nhất là, hoàn thiện cơ chế ngoại hối và giao dịch đa tiền tệ cho VIFC-HCMC. Theo tôi, VIFC cần được xem là một không gian tài chính đặc thù, trong đó các thành viên đủ điều kiện có thể mở tài khoản đa tiền tệ, thực hiện thanh toán, đầu tư, phát hành sản phẩm tài chính, chuyển vốn, chuyển lợi nhuận, ký quỹ, lưu ký và bù trừ bằng ngoại tệ hoặc các đồng tiền được chấp thuận.
Đây là điều kiện rất quan trọng để thu hút các định chế tài chính, quỹ đầu tư, ngân hàng, công ty quản lý tài sản và nhà đầu tư quốc tế. Nếu tất cả giao dịch trong VIFC vẫn bị ràng buộc như thị trường nội địa thông thường thì rất khó tạo ra lợi thế cạnh tranh so với Singapore, Hong Kong, Dubai hay Abu Dhabi.
Nhóm thứ hai là trao quyền mạnh hơn cho Cơ quan điều hành VIFC-HCMC trong quản lý, cấp phép và giám sát các hoạt động tài chính đặc thù. Cơ quan điều hành VIFC cần được giao vai trò đầu mối một cửa trong tiếp nhận, xử lý, xác nhận tư cách thành viên, cấp mã số giao dịch đặc thù, công nhận sản phẩm tài chính được phép triển khai, phối hợp giám sát dòng vốn và vận hành cơ chế sandbox. Điều này không có nghĩa là tách VIFC khỏi hệ thống quản lý nhà nước, mà là phân quyền hợp lý để các giao dịch tài chính quốc tế được xử lý nhanh, minh bạch, chuyên nghiệp và phù hợp thông lệ quốc tế.
Nhóm thứ ba là thiết lập cơ chế kiểm soát rủi ro hiện đại, đặc biệt là phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi, giám sát dòng tiền xuyên biên giới và báo cáo dữ liệu theo thời gian thực.
VIFC cần thông thoáng hơn phần còn lại của nền kinh tế, nhưng không thể buông lỏng quản lý. Ngược lại, càng thông thoáng thì càng phải quản trị bằng dữ liệu, công nghệ, chuẩn mực tuân thủ cao và cơ chế hậu kiểm hiệu quả.
- Hoạt động của VIFC-HCMC trải dài trên nhiều lĩnh vực, từ ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, ngoại hối, thuế, đầu tư, công nghệ, dữ liệu, phòng chống rửa tiền. Vậy, quyền hạn của VIFC và vai trò quản lý nhà nước khác như Ngân hàng Nhà nước sẽ được phân định như thế nào để tránh chồng chéo?
PGS. TS Nguyễn Hữu Huân: VIFC-HCMC cũng đang đứng trước thách thức về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Hoạt động của một trung tâm tài chính quốc tế liên quan đồng thời đến ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, ngoại hối, thuế, đầu tư, công nghệ, dữ liệu, phòng chống rửa tiền và giải quyết tranh chấp.
Nếu mỗi lĩnh vực vẫn xử lý theo quy trình riêng, thời gian riêng, cách hiểu riêng thì sẽ rất khó tạo ra tốc độ và tính cạnh tranh quốc tế.
Về cơ bản, 15 kiến nghị mà tôi đề xuất tập trung vào một mục tiêu lớn là tạo lập khung pháp lý đủ thông thoáng, đủ khác biệt và đủ an toàn để Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP HCM, tức VIFC-HCMC, có thể vận hành theo đúng chuẩn mực của một trung tâm tài chính quốc tế, chứ không chỉ là một khu vực hành chính hay một mô hình thử nghiệm thông thường.
Cụ thể hơn, 15 kiến nghị bao gồm các nội dung:
- Bổ sung chương riêng về quản lý ngoại hối cho trung tâm tài chính quốc tế
- Xác lập khu vực ngoại hối đặc thù trong VIFC
- Cho phép giao dịch đa tiền tệ
- Cho phép mở và vận hành tài khoản đa tiền tệ
- Cho phép chuyển vốn và lợi nhuận ra nước ngoài theo cơ chế thông thoáng nhưng có kiểm soát
- Cho phép phát hành sản phẩm tài chính bằng ngoại tệ
- Trao quyền cho Cơ quan điều hành VIFC
- Áp dụng cơ chế một cửa ngoại hối
- Thiết lập sandbox ngoại hối và thanh toán xuyên biên giới
- Tách bạch dòng vốn VIFC với dòng vốn nội địa
- Cho phép tổ chức trong nước đủ điều kiện giao dịch với thành viên VIFC
- Phát triển sản phẩm phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phái sinh ngoại hối
- Cho phép ngân hàng, định chế tài chính tại VIFC cung cấp dịch vụ ngoại hối quốc tế
- Xây dựng hệ thống giám sát dữ liệu theo thời gian thực
- Áp dụng nguyên tắc quản lý ngoại hối theo “vành đai kiểm soát”
Tinh thần chung là VIFC-HCMC phải có “độ mở quốc tế” đủ lớn để thu hút dòng vốn toàn cầu, nhưng đồng thời phải có “hàng rào quản trị rủi ro” đủ chắc để bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, ổn định tỷ giá và an ninh tiền tệ quốc gia.
- Để VIFC-HCMC vận hành thực chất như một trung tâm tài chính quốc tế, theo ông khung pháp lý cần sửa đổi như thế nào?
PGS. TS Nguyễn Hữu Huân: Theo tôi, để VIFC-HCMC vận hành thực chất, khung pháp lý cần được sửa đổi theo hướng hình thành một hệ sinh thái pháp lý riêng cho trung tâm tài chính quốc tế, thay vì chỉ bổ sung một vài cơ chế ưu đãi đơn lẻ.
Trước hết, cần sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến Ngân hàng Nhà nước, quản lý ngoại hối và hoạt động ngân hàng theo hướng cho phép VIFC vận hành cơ chế đa tiền tệ, tài khoản đa tiền tệ, thanh toán xuyên biên giới, chuyển vốn và lợi nhuận linh hoạt hơn, đồng thời trao cho Cơ quan điều hành VIFC quyền phối hợp quản lý trực tiếp đối với các hoạt động đặc thù trong trung tâm. Đây là nền tảng quan trọng nhất, bởi tài chính quốc tế trước hết là dòng vốn xuyên biên giới. Nếu dòng vốn bị nghẽn ở khâu ngoại hối, thanh toán và chuyển lợi nhuận thì các sản phẩm khác rất khó phát triển.
Thứ hai, cần sửa đổi các quy định về phòng, chống rửa tiền theo hướng phù hợp với mô hình trung tâm tài chính quốc tế. VIFC cần áp dụng chuẩn mực rất cao về KYC, e-KYC, nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi, truy xuất nguồn tiền, giám sát giao dịch đáng ngờ, chia sẻ dữ liệu và báo cáo theo thời gian thực. Tuy nhiên, cách quản lý không nên thiên về tiền kiểm thủ công, mà nên chuyển sang quản lý dựa trên rủi ro, dữ liệu và công nghệ. Nhà đầu tư tốt, minh bạch, có hồ sơ rõ ràng cần được xử lý nhanh; các giao dịch bất thường, rủi ro cao thì phải được giám sát chặt.
Thứ ba, cần sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định liên quan để cho phép ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, định chế tài chính quốc tế, công ty tài chính, công ty quản lý tài sản, công ty chứng khoán và fintech đủ điều kiện được cung cấp các dịch vụ tài chính quốc tế trong VIFC. Ví dụ như quản lý tài sản bằng ngoại tệ, tài trợ thương mại, bảo lãnh quốc tế, phái sinh ngoại hối, tài chính hàng không, tài chính hàng hải, phát hành trái phiếu quốc tế, tài trợ xanh và các sản phẩm tài chính cấu trúc.
Thứ tư, cần có cơ chế sandbox đủ mạnh cho các sản phẩm tài chính thế hệ mới. Không thể xây dựng một trung tâm tài chính quốc tế hiện đại nếu thiếu không gian thử nghiệm cho fintech, thanh toán xuyên biên giới, tài sản số được cấp phép, token hóa tài sản thực, hợp đồng thông minh, tài chính xanh, carbon credit, tài chính chuỗi cung ứng và các sản phẩm mới. Sandbox phải có giới hạn, có kiểm soát, có thời hạn, có tiêu chí đánh giá, nhưng phải đủ linh hoạt để đổi mới sáng tạo diễn ra thật.
Thứ năm, cần hoàn thiện cơ chế về giải quyết tranh chấp, luật áp dụng và chuẩn mực hợp đồng quốc tế. Nhà đầu tư quốc tế rất quan tâm đến khả năng thực thi hợp đồng, tính độc lập của cơ chế trọng tài, tòa án chuyên biệt, khả năng lựa chọn luật áp dụng và phương thức giải quyết tranh chấp. Nếu VIFC muốn thu hút dòng vốn tổ chức, các quỹ lớn và định chế tài chính toàn cầu, thì yếu tố niềm tin pháp lý là cực kỳ quan trọng.
Thứ sáu, cần thiết kế cơ chế một cửa liên thông cho VIFC. Nhà đầu tư quốc tế khi vào VIFC không nên phải đi qua quá nhiều tầng nấc thủ tục. Cơ quan điều hành VIFC cần được trao quyền làm đầu mối xử lý thủ tục thành viên, cấp phép sản phẩm, kết nối với cơ quan thuế, ngân hàng, chứng khoán, ngoại hối, phòng chống rửa tiền, lao động, visa và các dịch vụ hỗ trợ khác. Một trung tâm tài chính quốc tế không chỉ cạnh tranh bằng ưu đãi, mà cạnh tranh bằng tốc độ xử lý, tính minh bạch và sự chắc chắn về pháp lý.
Tóm lại, khung pháp lý cho VIFC-HCMC cần được sửa theo hướng đặc thù hơn, mở hơn, nhanh hơn, nhưng cũng minh bạch hơn và kiểm soát rủi ro tốt hơn. Chúng ta không nên hiểu cơ chế đặc thù là nới lỏng quản lý, mà là quản lý theo chuẩn cao hơn, hiện đại hơn và phù hợp hơn với thông lệ tài chính quốc tế. Khi khung pháp lý đủ rõ, đủ mở và đủ tin cậy, VIFC-HCMC mới có thể chuyển các cam kết thành giao dịch, chuyển sự quan tâm thành dòng vốn, và chuyển lợi thế của TP HCM thành năng lực cạnh tranh tài chính quốc tế thực sự.
Trân trọng cảm ơn ông!
TRỰC TIẾP