Một buổi chiều cuối tuần, anh Hưng bước vào cửa hàng Điện Máy Xanh gần nhà để tìm một chiếc tủ lạnh mới. Anh chọn máy, ra quầy thanh toán, và thay vì trả đủ một lần, nhân viên bán hàng gợi ý một gói trả chậm lãi suất 0%, chia nhỏ khoản tiền trong vài tháng. Vài cú chạm trên điện thoại để xác thực khuôn mặt, anh Hưng mang tủ lạnh về nhà mà gần như không cảm nhận được khoản vay mình vừa phát sinh.
Cùng lúc, cũng tại cửa hàng đó, anh Hưng rút một khoản tiền mặt để chi tiêu qua dịch vụ của ngân hàng đặt ngay bên trong khuôn viên.
Nếu nhìn vào các báo cáo tài chính mà CTCP Đầu tư Thế Giới Di Động (MWG) và công ty con Điện Máy Xanh (DMX) vừa công bố, câu chuyện còn phức tạp hơn nhiều so với hình dung thông thường về một chuỗi bán lẻ điện thoại, điện máy.
Trong bản tin nhà đầu tư lũy kế 6 tháng đầu năm, DMX công bố doanh thu hợp nhất đạt 65.279 tỷ đồng, tăng 31% so với cùng kỳ, hoàn thành 53% kế hoạch năm, với tăng trưởng doanh thu cùng cửa hàng hiện hữu đạt 32%.
Nhưng thông tin thu hút nhà đầu tư lại là cách dòng tiền đó chảy vào công ty. DMX cho biết doanh thu từ mua trả chậm tăng 49% so với cùng kỳ, nhanh gần gấp rưỡi tốc độ tăng trưởng doanh thu toàn hệ thống và chiếm tới 38% tổng doanh thu. Có tới 96% sản phẩm trong hệ thống DMX hiện đã áp dụng hình thức thanh toán này.
DMX xếp "Tài chính tiêu dùng & Dịch vụ tiện ích" là một trong 5 trụ cột tăng trưởng của công ty, ngang hàng với các trụ cột đến từ dịch vụ sửa chữa Thợ Điện Máy Xanh, kênh Super App & Online hay chuỗi Erablue tại Indonesia.
Cùng với tỷ trọng trả chậm, DMX còn công bố tổng giá trị dịch vụ thanh toán tiện ích và ngân hàng đạt 56.000 tỷ đồng trong 6 tháng, tăng 7% so với cùng kỳ, với 36 triệu giao dịch tăng 11%, được thực hiện tại hơn 3.000 cửa hàng của hệ thống.
Nền tảng cho các khoản trả chậm này là MWG PayLater - dịch vụ mua trước trả sau (BNPL) mà Thế Giới Di Động lần đầu tiên phát hành mang thương hiệu riêng từ tháng 7/2025, áp dụng tại các chuỗi thegioididong.com, Điện Máy Xanh, Topzone và Avakids.
Sản phẩm này ra đời từ hợp tác chiến lược với ngân hàng thuần số Cake by VPBank, trong đó Cake cung cấp nguồn vốn tín dụng và nền tảng công nghệ, còn MWG mang tới lượng khách hàng khổng lồ của mình.
Khách hàng được cấp hạn mức tín dụng lên đến 40 triệu đồng, phê duyệt hoàn toàn online trong vòng 2 phút, có thể trả chậm với lãi suất 0% trong kỳ hạn lên đến 12 tháng, hoặc hưởng ưu đãi miễn lãi lên đến 90 ngày, tất cả được xác thực qua định danh điện tử, OTP và nhận diện khuôn mặt.
Dịch vụ này ban đầu chỉ áp dụng tại cửa hàng, sau đó mở rộng ra toàn bộ kênh bán, bao gồm cả hệ thống nhà thuốc An Khang và các công ty thành viên khác trong hệ sinh thái MWG.
(Ảnh: MWG).
"MWG PayLater cho thấy chúng tôi vẫn không ngừng tìm kiếm và bổ sung thêm những dịch vụ và tiện ích thiết thực cho khách hàng của mình", ông Trương Hồng Hoàng, Giám đốc phát triển kinh doanh ngành hàng dịch vụ của Thế Giới Di Động, nói về sản phẩm này.
Còn ông Nguyễn Hữu Quang, CEO ngân hàng số Cake, gọi đây là "sản phẩm tài chính mang tính thiết thực cao, dễ tiếp cận và linh hoạt cho người tiêu dùng", và kỳ vọng rằng "với khả năng thiết kế trải nghiệm phù hợp cho từng đối tác và kinh nghiệm triển khai dịch vụ tài chính với quy mô lớn, MWG PayLater sẽ nhanh chóng trở thành lựa chọn ưu tiên trong hành trình mua sắm của khách hàng tại Việt Nam".
Đây cũng không phải hợp tác đầu tiên giữa hai bên, từ tháng 10/2024, Cake và MWG đã cùng triển khai một sản phẩm vay nhanh trực tuyến, được ghi nhận có tốc độ tăng trưởng khả quan về lượng người dùng và giải ngân thành công.
Việc một nhà bán lẻ điện máy tự đứng tên một sản phẩm tài chính, thay vì chỉ đơn thuần dán logo đối tác lên quầy thanh toán, đặt ra câu hỏi vì sao một tập đoàn vốn đã hợp tác với hàng loạt công ty tài chính và ngân hàng cho vay trả góp lại còn cần một sản phẩm "của riêng mình"?
Trước vấn đề này, chia sẻ với phóng viên, ông Nguyễn Ảnh Cường, nhà sáng lập kiêm CEO của nền tảng BNPL Fundiin, từ chối bình luận về chiến lược của một doanh nghiệp cụ thể, nhưng đưa ra một cách nhìn chung của ngành:
"Nhìn chung trong ngành bán lẻ, việc phát triển một giải pháp tài chính mang thương hiệu riêng thường không khác việc phát triển một chiếc thẻ tín dụng đồng thương hiệu, nhằm mục tiêu nâng cao trải nghiệm khách hàng, tăng khả năng cá nhân hóa và tạo sự kết nối xuyên suốt trong hệ sinh thái. Dù vậy, phía sau các sản phẩm này vẫn thường có sự tham gia của ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính được cấp phép để thực hiện nghiệp vụ đặc thù riêng”.
Với những sản phẩm tài chính như MWG Paylater, ai thực sự gánh rủi ro khi khách hàng không trả được nợ, ông Cường cho rằng: "Trong đa số mô hình BNPL trên thị trường, rủi ro tín dụng thường do đơn vị cung cấp dịch vụ BNPL chịu, chứ không phải nhà bán lẻ", với nhiều lớp kiểm soát như xác thực danh tính, đánh giá gian lận, chấm điểm tín dụng dựa trên dữ liệu tín dụng, lịch sử giao dịch, dữ liệu định danh, dữ liệu thiết bị và mô hình AI theo thời gian thực.
Nói cách khác, khi khoản trả chậm 38% doanh thu kia phát sinh nợ xấu, người gánh chịu trước tiên không phải là MWG, mà là các tổ chức tài chính đứng sau nó.
Bàn luận thêm về việc liệu tỷ trọng trả chậm ngày càng lớn trong hệ thống DMX có phải là dấu hiệu sức mua của người tiêu dùng đang yếu đi, ông Cường không đồng tình với cách diễn giải đó.
Ông cho rằng: “Đây chưa hẳn là tín hiệu cho thấy sức mua suy yếu. Phần lớn các chương trình mua trả chậm trên thị trường hiện nay có lãi suất 0% hoặc tương đối thấp, nên nhiều người tiêu dùng lựa chọn trả chậm đơn giản vì đây là cách quản lý dòng tiền hiệu quả hơn, ngay cả khi họ có khả năng thanh toán ngay".
Theo ông Cường, tỷ trọng giao dịch trả chậm tăng "phản ánh xu hướng người tiêu dùng ưu tiên sự linh hoạt về tài chính, đồng thời cho thấy các nhà bán lẻ và tổ chức tài chính đã phối hợp tốt hơn để đưa các chương trình phù hợp đến khách hàng".
Nếu mảng trả chậm cho thấy cách MWG kiếm tiền từ việc cho khách hàng vay, thì một phần khác trong báo cáo tài chính quý I lại hé lộ cách tập đoàn này kiếm tiền từ chính lượng tiền mặt khổng lồ của mình.
Theo báo cáo tài chính quý I, MWG ghi nhận doanh thu hợp nhất 46.661 tỷ đồng, tăng gần 29% so với cùng kỳ, mức doanh thu theo quý lớn nhất từ trước đến nay của công ty. MWG báo lãi ròng hơn 2.757 tỷ đồng trong quý, tương đương hơn 30 tỷ đồng mỗi ngày, cũng là mức lãi theo quý cao nhất mà doanh nghiệp từng đạt được. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế đạt gần 20.783 tỷ đồng.
Trong cơ cấu lợi nhuận đó, có một khoản mục tăng nhanh hơn hẳn hoạt động bán hàng cốt lõi, đó là doanh thu tài chính, đạt gần 858 tỷ đồng trong quý, tăng gần 24% so với cùng kỳ, mà phần lớn 801 tỷ đồng đến từ lãi tiền gửi, cho vay và trái phiếu.
Con số này có được nhờ một khối tài sản đồ sộ khi tính đến cuối tháng 3, MWG nắm giữ tổng cộng gần 49.400 tỷ đồng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền cho vay và đầu tư trái phiếu, bao gồm 25.875 tỷ đồng tiền gửi ngân hàng, 14.530 tỷ đồng đầu tư trái phiếu, và 7.316 tỷ đồng cho các công ty đối tác vay ngắn hạn, các khoản vay có kỳ hạn dưới 12 tháng và hưởng lãi suất.
Các báo cáo tài chính cho thấy hoạt động cho vay của MWG bắt đầu được thể hiện từ năm 2020, khi đó chỉ ở mức khiêm tốn 80 tỷ đồng, nhưng đã tăng mạnh trong vài năm gần đây để đạt mức cao nhất 7.316 tỷ đồng vào cuối quý I và gấp gần 92 lần so với thời điểm khởi đầu.
MWG không thuyết minh chi tiết các khoản vay này được giải ngân cho đối tác cụ thể nào, chỉ cho biết đó là các khoản vay ngắn hạn có kỳ hạn dưới 12 tháng. Đồng thời, ở chiều ngược lại, công ty đang có khoản vay ngắn hạn 28.100 tỷ đồng tại thời điểm cuối tháng 3 với chi phí tài chính 421 tỷ đồng trong quý, trong đó riêng chi phí lãi vay là 415 tỷ đồng.
Lãnh đạo MWG từng lý giải với cổ đông về hoạt động này rằng hoạt động cốt lõi của công ty vẫn là kinh doanh bán lẻ, nhưng nhờ hoạt động bán lẻ, công ty có lợi thế về dòng tiền và khai thác điều đó để đầu tư tài chính. Khi dòng tiền ổn định và có cơ hội, MWG sẽ dùng để đầu tư tài chính, nhưng công ty khẳng định vẫn thận trọng, chủ yếu gửi ngân hàng hoặc giao dịch với đối tác uy tín.
Nếu mảng trả chậm khai thác nhu cầu vay của khách hàng, còn khoản tiền gửi/cho vay khai thác chính dòng tiền dư thừa của công ty, thì còn một hướng đi thứ ba là biến hàng nghìn cửa hàng vật lý thành điểm giao dịch ngân hàng.
Tháng 6/2025, theo tiết lộ của ông Đoàn Văn Hiểu Em, CEO chuỗi thegioididong.com, mỗi tháng hệ thống thực hiện khoảng 150.000 giao dịch chuyển, rút, nạp tiền, thu về hơn 1.000 tỷ đồng từ mô hình "cây ATM" hợp tác cùng VPBank.
Cơ sở cho sự hấp dẫn của mô hình này nằm ở một khoảng trống hạ tầng khi Việt Nam hiện có chưa tới 20.000 cây ATM trên cả nước, trung bình mỗi cây phải phục vụ khoảng 5.000 người.
Khi các cửa hàng bán lẻ có thể đóng vai trò như một điểm rút, nạp tiền, các cây ATM và điểm giao dịch truyền thống được giảm tải, còn ngân hàng tiết kiệm được chi phí mở điểm giao dịch mới; độ phủ của các chuỗi như Thế Giới Di Động, Điện Máy Xanh đã vươn tới tận huyện, xã vùng sâu vùng xa.
"Ngay cả khi sang tới Indonesia, tôi cũng chưa thấy chuỗi bán lẻ nào làm được mô hình như tại Việt Nam, đó là sự khác biệt", ông Hiểu Em chia sẻ thời điểm đó.
Đây không phải là câu chuyện riêng của Thế Giới Di Động. Techcombank hợp tác cùng WinCommerce, đơn vị sở hữu chuỗi WinMart và WinMart+; FPT Shop biến hơn 600 cửa hàng thành điểm rút tiền mặt như cây ATM cùng Vietcombank; F88 biến hàng trăm cửa hàng tài chính thành phòng giao dịch của ngân hàng MB, cho phép khách hàng không chỉ vay mà còn nạp, rút tiền mặt, thanh toán dư nợ thẻ tín dụng, chuyển tiền, thanh toán các lệnh chi, nhờ thu, chi hộ.
Về bản chất, ông Hiểu Em cho rằng sự dịch chuyển này "là sự tất yếu, khi các bên đều nhìn ra sức mạnh của sự cộng hưởng. Thực tế, không còn nhiều doanh nghiệp phát triển theo hướng tự xây dựng các dịch vụ từ A đến Z, bởi chi phí sẽ rất lớn" và ông dự báo xu hướng sẽ còn mở rộng thêm, bởi "khối ngân hàng đã bắt đầu cắt giảm, tinh gọn bộ máy rất nhiều. Những phần việc được tinh gọn có thể chuyển sang cho đối tác".
Thực tế, trên thế giới, mô hình đại lý ngân hàng không chỉ giới hạn ở chuỗi bán lẻ điện máy mà còn mở rộng sang cửa hàng tạp hóa, hiệu thuốc, bưu điện hay cửa hàng xăng dầu và tại một số thị trường, nó đã tạo ra thay đổi ở quy mô quốc gia.
Chẳng hạn, Brazil là ví dụ điển hình. Chỉ trong 12 năm, quốc gia này có thêm 13 triệu người dân tiếp cận dịch vụ tài chính, với hơn 160.000 cửa hàng bán lẻ trở thành đại lý ngân hàng, xử lý khoảng 3 tỷ giao dịch mỗi năm, chiếm 7% tổng giao dịch của toàn hệ thống ngân hàng Brazil, phần lớn đến từ nhóm dân cư trước đó khó tiếp cận dịch vụ tài chính.
Câu hỏi đặt ra là nếu các mảnh ghép như trả chậm, cho vay bằng dòng tiền nhàn rỗi, đại lý ngân hàng tiếp tục lớn dần, một chuỗi bán lẻ như MWG có thể tiến hóa đến đâu? Câu trả lời, ở một thị trường khác, đã có sẵn.
Grupo Elektra, tập đoàn tại Mexico, tự mô tả trong tài liệu công bố nhà đầu tư quý IV/2024 là công ty dịch vụ tài chính hàng đầu và nhà bán lẻ chuyên biệt tại Mỹ Latinh, đồng thời là nhà cung cấp các khoản vay ngắn hạn phi ngân hàng lớn nhất tại Mỹ, với hơn 70 năm cung cấp các khoản vay tiêu dùng, khoảng 70.500 nhân viên trực tiếp, 25,2 triệu khách hàng ngân hàng số, hiện diện tại Mexico, Mỹ, Guatemala, Honduras và Panama qua 6.150 điểm tiếp xúc khách hàng.
Điều đáng chú ý nằm ở cơ cấu doanh thu, trong tổng doanh thu 201.296 triệu peso năm 2024, mảng thương mại - tức bán lẻ truyền thống, chỉ đóng góp 78.749 triệu peso, tương đương 39% doanh thu hợp nhất, trong khi mảng tài chính đóng góp tới 122.547 triệu peso, tương đương 61%.
Nói cách khác, phần lớn doanh thu của Grupo Elektra đến từ hoạt động tài chính, không phải bán lẻ - một tỷ lệ đảo ngược hoàn toàn so với hình dung ban đầu về một "chuỗi bán lẻ có làm thêm dịch vụ tài chính".
Ngân hàng của tập đoàn, Banco Azteca, hoạt động từ năm 2002, hiện là ngân hàng lớn nhất Mexico xét theo số lượng nhân viên và danh mục cho vay cá nhân, đứng thứ hai về tổng số nhân viên trong ngành ngân hàng nước này.
Ngân hàng có 35 triệu tài khoản tiền gửi tính đến 2024, trong một quốc gia có đúng 35 triệu hộ gia đình, và là tổ chức tài chính duy nhất hiện diện tại 177 khu tự quản. Danh mục cho vay của Banco Azteca đạt 187.645 triệu peso năm 2024, tăng trưởng kép 15% mỗi năm trong giai đoạn 2018-2024, với tỷ lệ nợ quá hạn được kiểm soát ở mức 3,8%.
Ứng dụng ngân hàng số của Banco Azteca, được mô tả là ngân hàng số lớn nhất Mexico, xử lý hơn 6 tỷ giao dịch trong năm 2024, chiếm 59% tổng giao dịch tài chính của ngân hàng.
Đặt cạnh câu chuyện MWG, sự tương đồng khá rõ khi cả hai đều khởi đầu và vẫn duy trì bộ mặt bán lẻ. Trong đó, Grupo Elektra bán xe máy, đồ điện tử, viễn thông; MWG bán điện thoại, điện máy, nhưng cùng lúc đều phát triển song song năng lực tài chính dựa trên chính tệp khách hàng và mạng lưới cửa hàng có sẵn.
(Ảnh: MWG, Banco Azteca).
Trước câu hỏi liệu ranh giới giữa "nhà bán lẻ có dịch vụ tài chính đi kèm" và "công ty tài chính có cửa hàng bán lẻ" nằm ở đâu, chia sẻ với phóng viên, ông Nguyễn Ảnh Cường của Fundiin đưa ra một cách nhìn không đặt nặng việc phân loại:
"Tôi không nghĩ việc phân định chiếc iPhone là chiếc điện thoại có công năng như máy tính hay máy tính có chức năng thoại, hay việc phân loại một doanh nghiệp là 'nhà bán lẻ' hay 'định chế tài chính' còn là điều quan trọng nhất.
Đổi mới sáng tạo đang làm mờ ranh giới giữa các ngành. Ngày nay, một nhà bán lẻ có thể cung cấp các dịch vụ tài chính để hoàn thiện trải nghiệm khách hàng; ngược lại, ngân hàng cũng đang xây dựng hệ sinh thái tiêu dùng, thương mại và dịch vụ trên nền tảng số".
Theo ông, "điều tạo nên sự khác biệt không phải là doanh nghiệp bán thêm sản phẩm gì, mà là năng lực cốt lõi của họ" và về lâu dài, người tiêu dùng sẽ ít quan tâm một doanh nghiệp thuộc ngành nào, mà sẽ chọn "nền tảng nào giúp họ tiếp cận sản phẩm nhanh hơn, thuận tiện hơn, minh bạch hơn và với chi phí hợp lý hơn".
Ông cũng lưu ý rằng phần lớn nhà bán lẻ hiện nay, kể cả khi mở rộng sang tài chính, vẫn chọn hợp tác thay vì tự mình gánh vác toàn bộ nghiệp vụ: "Quản trị rủi ro tín dụng là lĩnh vực có yêu cầu rất cao về dữ liệu, mô hình đánh giá, nguồn vốn, thu hồi nợ và tuân thủ pháp lý. Đây không phải năng lực mà mọi doanh nghiệp bán lẻ đều muốn tự xây dựng."
Trong 2-3 năm tới, theo ông, xu hướng nhiều khả năng sẽ là "hợp tác sâu hơn giữa nhà bán lẻ và các nền tảng tài chính", nơi các startup fintech tạo giá trị bằng cách giúp nhà bán lẻ "triển khai nhanh hơn, phục vụ nhiều phân khúc khách hàng hơn và tối ưu hiệu quả phê duyệt cũng như quản trị rủi ro" chứ không phải bị thay thế hoàn toàn bởi chính các nhà bán lẻ mà họ từng phục vụ.
Quay lại với anh Hưng ở đầu bài viết, khoản trả chậm anh vừa ký không chỉ là một tiện ích thanh toán, mà là một phần trong khối doanh thu trả chậm chiếm 38% tổng doanh thu của DMX, được xử lý qua một hạ tầng tín dụng vận hành cùng ngân hàng đối tác.
Khoản tiền mặt anh rút qua “cây ATM" trong cùng cửa hàng là một phần của mô hình đại lý thanh toán mang về hơn 1.000 tỷ đồng doanh thu mỗi tháng cho hệ thống. Và đằng sau quầy thu ngân đó, gần 49.400 tỷ đồng tiền mặt, tiền gửi và các khoản cho vay của công ty mẹ đang tự sinh lời mỗi ngày, độc lập với việc có bao nhiêu chiếc tủ lạnh được bán ra.
Từng mảnh ghép trong bức tranh này, như tỷ trọng trả chậm, khoản tiền gửi/cho vay, mô hình đại lý ngân hàng, sản phẩm BNPL riêng, đã được chính MWG và DMX công bố qua các báo cáo công khai.
Mức độ các hoạt động này sẽ tiếp tục mở rộng ra sao, đóng góp bao nhiêu vào lợi nhuận trong các quý tới, và liệu cấu trúc doanh thu tại Việt Nam của MWG có một ngày tiệm cận với những gì Grupo Elektra đã đạt được ở Mexico là điều cần chờ đợi ở phía trước.