|
 Thuật ngữ VietnamBiz

Năm 2025, Việt Nam ghi nhận nhiều điểm sáng trong phát triển kinh tế, quy mô GDP ước đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, vươn lên vị trí thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn nhiều bài toán cần giải nếu muốn tăng trưởng hai con số trong năm tiếp theo. Để làm rõ hơn về những vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam.

PV: Trong năm 2025, nền kinh tế Việt Nam đã ghi nhận những tích cực như tăng trưởng kinh tế ước đạt 8,02% cao nhất khu vực, những kết quả này đến từ động lực nào, thưa ông?

 

Chuyên gia Nguyễn Bá Hùng: Nhìn lại năm 2025, nền kinh tế Việt Nam ghi nhận sự tích cực rõ nét trong nhiều lĩnh vực: GDP cả năm 2025 tăng 8,02% đưa quy mô nền kinh tế lên 514 tỷ USD, bất chấp những tác động tiêu cực từ thuế đối ứng, xuất khẩu vẫn tăng trưởng 17%, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục lập kỷ lục.

Về xuất khẩu, mặc dù phải đối mặt với các rào cản chính sách thuế từ thị trường Mỹ và biến động kinh tế toàn cầu, xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng tốt hơn so với mặt bằng chung của khu vực.

Thu hút FDI cũng cùng chung xu hướng này, song cũng có sự phân hóa đáng chú ý. Số lượng vốn đăng ký mới có xu hướng giảm do các nhà đầu tư chưa vào thị trường đang thận trọng thăm dò và quan sát rủi ro. Tuy nhiên, các nhà đầu tư hiện hữu lại thể hiện sự lạc quan bằng việc tăng vốn mở rộng sản xuất. Vốn FDI thực hiện vì vậy vẫn duy trì mức tăng trưởng tích cực, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế.

Đặc biệt là về đầu tư công, đây là động lực quan trọng trong năm 2025 nhờ việc phân bổ nguồn lực mạnh mẽ, dẫn đến tốc độ tăng trưởng thực hiện rất cao.

Trong năm 2025, vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước năm 2025 ước đạt 850,7 nghìn tỷ đồng, bằng 83,6% kế hoạch năm và tăng 26,6% so với năm trước. Mặc dù, giải ngân vốn đầu tư công cả năm chưa hoàn thành 100% kế hoạch được giao nhưng do giá trị lớn nên tăng trưởng rất cao so với năm ngoái.

PV: Mặc dù nền kinh tế năm 2025 có nhiều tích cực, song vẫn còn rất nhiều điểm yếu nội tại, các vấn đề này là gì, thưa ông?

Chuyên gia Nguyễn Bá Hùng: Có thể nhìn thấy một số điểm yếu nội tại trong nền kinh tế. Thứ nhất, trong số ba nguồn vốn đầu tư chính của nền kinh tế, trong năm 2025, đầu tư công tăng trưởng 26,6%, đầu tư nước ngoài tăng 11,7% và đầu tư tư nhân tăng 8,4% thì đầu tư tư nhân vẫn tăng chậm nhất.

Trên thực tế, dòng vốn đầu tư ở khu vực tư nhân trở nên chậm chạp trong một khoảng thời gian dài. Trong khi khu vực này giữ vai trò quyết định đối với tăng trưởng dài hạn, khi hiện chiếm gần 60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Điều này cho thấy khu vực doanh nghiệp nội địa đang thiếu động lực và cần các biện pháp cải cách môi trường kinh doanh quyết liệt hơn. Không thể dựa mãi vào nguồn lực đầu tư công, muốn tăng đầu tư tư nhân ở trong nước nhanh hơn được thì phải quay về cải cách môi trường kinh doanh, về chính sách thuế, về cấp phép, về quy định,... thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, giảm thời gian và chi phí tuân thủ.

Yếu tố thứ hai là tiêu dùng nội địa, mặc dù số liệu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng 9,2%, nhưng sau khi loại trừ yếu tố giá, mức tăng trưởng thực tế chỉ đạt khoảng 6,7%, tương đương mức tăng năm 2024 và thấp hơn nhiều so với con số tăng trưởng chung. Điều này phản ánh thực trạng khó khăn của người dân, có thể thấy tình trạng hàng quán đóng cửa phổ biến.

Cuối cùng là xuất khẩu của khu vực nội địa. Trái ngược với khối FDI, xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước giảm khoảng 6% trong năm 2025. Hiện tượng "front-loading" (đẩy mạnh đơn hàng sớm vào đầu năm để tránh thuế) đã tạo ra sự tăng trưởng cao lên đến 15% trong quý I/2025 nhưng sau đó yếu dần vào các quý sau do nhu cầu thị trường giảm và áp lực cạnh tranh quốc tế tăng cao.

Thực trạng này cho thấy hai góc độ. Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đa dạng hoá hơn nữa thị trường xuất khẩu, mặc dù về quy mô các thị trường khác nhỏ hơn thị trường Mỹ nhiều. Thứ hai là cần nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước để duy trì hoặc phát triển được thị phần trên thị trường quốc tế, giúp đa dạng hoá thị trường. Khi Mỹ áp thuế đối ứng, hàng hoá chịu áp lức tăng giá nên sẽ khiến tiêu dùng giảm đi, và sức cạnh tranh của hàng Việt Nam so với các nước khác có yếu tố quyết định.

Vì vậy, để xuất khẩu của khu vực trong nước tiếp tục tăng trưởng, doanh nghiệp nội địa cần nâng cao sức cạnh tranh xuất khẩu, không chỉ dựa vào lợi thế giá thành mà phải nâng cao chất lượng và hiệu quả. Ở góc độ quản lý vĩ mô, Việt Nam cần cải thiện môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi và giảm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực sản xuất, quản trị, vốn, nâng cấp công nghệ của thì mới tăng được sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

PV: Năm 2026 những “cơn gió ngược” nào sẽ tác động đến vĩ mô của Việt Nam, thưa chuyên gia?

Chuyên gia Nguyễn Bá Hùng: Khu vực xuất khẩu có thể sẽ khó khăn hơn, khi năm 2025 thuế đối ứng của Mỹ có hiệu lực từ tháng 8, thì năm 2026, các mức thuế này sẽ có hiệu lực ngay từ đầu năm.

Điều này gây áp lực trực tiếp lên hoạt động xuất khẩu, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nội địa. Doanh nghiệp FDI xuất khẩu có thể vẫn tốt, bởi vì họ vẫn duy trì được sức cạnh tranh và các liên kết chuỗi cung ứng quốc tế. Các tập đoàn này có nguồn vốn lớn và lợi thế công nghệ cao, một số ngành có ưu đãi thuế nên ít bị tác động hơn bởi những yếu tố từ bên ngoài. Trong khi đó, xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa sẽ gặp nhiều khó khăn hơn 2025.

Thứ hai là, thu hút đầu tư nước ngoài năm 2026 vẫn tương đối thuận lợi, bởi khu vực FDI vẫn xuất khẩu rất tốt. Tuy nhiên, để mang lại lợi ích nhiều hơn cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng thì năm 2026 có thể cân nhắc thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển các lĩnh vực kinh tế nội địa, ví dụ như các dự án hạ tầng, hay các ngành kinh tế ở trong nước chứ không chỉ có xuất khẩu. Hiện nay, ước tính khoảng 70% vốn FDI tập trung vào các ngành liên quan đến sản xuất xuất khẩu, khiến lợi ích lan tỏa đến kinh tế trong nước còn hạn chế.

Tuy nhiên, bên cạnh rủi ro và áp lực từ bên ngoài, các yếu tố trong nước có cơ hội trở thành động lực quan trọng để duy trì và thúc đẩy tăng trưởng.

 

Trong khi đó, tăng trưởng đầu tư tư nhân lâu dài sẽ phụ thuộc vào cải cách chính sách để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để giảm chi phí, tăng thuận lợi, giảm các gánh nặng về cấp phép, về tuân thủ thuế, phí tạo cho doanh nghiệp sự an tâm và cảm thấy kinh doanh hiệu quả hơn thì họ mới tăng đầu tư.

Tiêu dùng nội địa có xu hướng ổn định, các biện pháp kích thích trực tiếp như giảm thuế VAT vẫn được tiếp tục từ các năm trước. Tiêu dùng chính phủ, thông qua tăng chi tiêu tài khoá như phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục có thể có tác dụng tích cực cho phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, thúc đẩy tiêu dùng đột phá sẽ là thách thức và cần nhiều thời gian hơn khi đầu tư phát huy hiệu quả, tạo ra thu nhập và công ăn việc làm.

PV: Thưa ông, Việt Nam đang hướng tới kỷ nguyên tăng trưởng cao từ năm 2026, nhưng bài toán nguồn vốn đầu tư vẫn là một thách thức lớn. Trong khi đầu tư công có hạn và đầu tư tư nhân chưa thực sự khởi sắc, Việt Nam cần làm gì để huy động nguồn lực đầu tư trong thời gian tới?

Chuyên gia Nguyễn Bá HùngĐối với các nền kinh tế đang phát triển, thúc đẩy tăng trưởng qua đầu tư có tác dụng cả trong ngắn hạn và trung-dài hạn để duy trì tốc độ phát triển và nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên, tác động đến tăng trưởng không chỉ phụ thuộc vào tăng quy mô huy động vốn, mà nâng cao hiệu quả sử dụng vốn còn quan trọng hơn.

Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư – cả đầu tư công và đầu tư tư nhân – việc cấp thiết là cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và đơn giản hoá quy trình thủ tục, giảm thời gian và chi phí tuân thủ, phát triển các thị trường nguồn lực như vốn, lao động, khoa học công nghệ.

Các chính sách cải cách thời gian gần đây đã xác định rõ ràng những lĩnh vực này, điều quan trọng là thực hiện có hiệu quả các biện pháp cụ thể để đem lại kết quả thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu không nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn, kể cả trong trường hợp huy động được quy mô vốn lớn hơn, kết quả tăng trưởng vẫn sẽ bị hạn chế.

Bên cạnh việc nâng cao hiệu quả, có thể huy động đa dạng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (đầu tư công), khu vực tư nhân và các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thời gian qua, đầu tư nước ngoài vẫn duy trì rất tích cực, trong khi đầu tư tư nhân vẫn còn khó khăn. Tuy nhiên, để huy động nguồn lực hiệu quả cho phát triển bền vững, vẫn phải dựa vào đầu tư tư nhân.

Đây là yếu tố then chốt để bứt phá tăng trưởng. Đầu tư công có thể đóng vai trò kích thích, “vốn mồi” để tạo ra cầu nội địa sôi động hơn, mở rộng cơ hội đầu tư kinh doanh cho các doanh nghiệp tư nhân. Chính phủ đang có nhiều dư địa đẩy mạnh đầu tư công, khi mức nợ công ở khoảng 34% GDP so với mức trần 60% được Quốc Hội phê duyệt.

Như tôi đã nói ở trên, tăng trưởng đầu tư tư nhân lâu dài sẽ phụ thuộc vào cải cách chính sách, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để giảm chi phí, tăng thuận lợi, giảm các gánh nặng về cấp phép, về tuân thủ thuế, phí tạo cho doanh nghiệp sự an tâm và cảm thấy kinh doanh hiệu quả hơn thì họ mới tăng đầu tư.

PV: Với mức tăng trưởng tín dụng năm 2025 ước đạt 19%, ông nhận định như thế nào về những rủi ro vĩ mô nền kinh tế vẫn phụ thuộc nặng nề vào dòng vốn ngân hàng? 

Chuyên gia Nguyễn Bá Hùng: Khi nền kinh tế tăng trưởng sôi động, các doanh nghiệp có nhu cầu tài chính phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh – cả vốn chủ sở hữu và vốn vay. Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay còn phụ thuộc vào vốn vay qua hệ thống ngân hàng, với tỷ lệ dự nợ tín dụng so với GDP đã ở mức trên 145%, theo số liệu vừa rồi Ngân hàng Nhà nước công bố. Trong khi đó, trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng gần 10% GDP. Để phát triển thị trường tài chính thì phải phát triển đồng thời cả ba thị trường cơ bản là thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu và khu vực ngân hàng, và thị trường tiền tệ.

Đối với doanh nghiệp, thị trường trái phiếu là cơ hội tiếp cận nguồn tín dụng trung-dài hạn rất tốt. Trong khi đó, vốn ngân hàng chủ yếu là vốn ngắn-trung hạn. Việc quá phụ thuộc vào vốn ngân hàng dẫn đến tăng trưởng tín dụng quá nóng có thể là một rủi ro vĩ mô. Khi nhu cầu cho vay tăng mạnh, các ngân hàng bắt buộc phải đẩy mạnh huy động vốn từ dân cư và tổ chức, từ đó kéo mặt bằng lãi suất đi lên.

Để giải toả áp lực cho hệ thống ngân hàng, giải pháp căn cơ là quyết liệt phát triển thị trường trái phiếu. Khi doanh nghiệp huy động được nợ trung-dài hạn ổn định hơn thông qua thị trường trái phiếu, dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng có thể tăng trưởng bền vững hơn.

Bên cạnh việc phát triển cân bằng thị trường nợ, bản thân hệ thống ngân hàng cũng cần nâng cao quy mô vốn để tăng khả năng chịu rủi ro và giúp tăng tổng dư nợ bền vững hơn. Điều này có nghĩa là hệ thống ngân hàng cũng cần có lộ trình tăng quy mô vốn phù hợp với tốc độ phát triển của nền kinh tế. Việc tăng vốn cũng nâng cao khả năng tăng quy mô huy động tiền gửi để duy trì hoạt động của ngân hàng bền vững, có khả năng chịu rủi ro cao hơn để đối mặt với biến động thanh khoản hay lãi suất trên thị trường.

Các biện pháp phát triển thị trường trái phiếu để đa dạng hóa nguồn cung tín dụng ngoài ngân hàng và tăng vốn của khu vực ngân hàng là những giải pháp để giảm thiểu rủi ro vĩ mô.

Về chính sách tiền tệ, NHNN được Chính phủ giao nhiệm vụ vừa ổn định vĩ mô, vừa hõ trợ tăng trưởng. Song mặt bằng lãi suất huy động đã có xu hướng tăng trong thời gian gần đây, những tín hiệu này ảnh hưởng ra sao đến mục tiêu tăng trưởng tín dụng

Chuyên gia Nguyễn Bá Hùng:  Hiện nay, chính sách tiền tệ được thể hiện thông qua lãi suất chính sách của NHNN, thường cân đối giữa mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng. Ở thời điểm này, lãi suất đã ở mức thuận lợi và với diễn biến lạm phát ổn định, nhiều khả năng lãi suất điều hành sẽ được duy trì ổn định trong thời gian tới. Dư địa để giảm thêm lãi suất nới rộng chính sách tiền tệ không còn nhiều, trong khi đó kích thích tăng trưởng qua chính sách tài khoá vẫn còn nhiều dư địa.

Thực tế vừa qua, khi tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ huy động vốn, các ngân hàng có nhu cầu vốn ngắn hạn phục vụ thanh khoản, được điều hành qua thị trường liên ngân hàng. NHNN có thể can thiệp thông qua thị trường mở để cân đối cung – cầu, giảm áp lực lãi suất. Đây là một kênh quan trọng để ổn định vĩ mô.

Đối với các ngân hàng, để tăng trưởng tín dụng bền vững, năng lực tăng trưởng tín dụng phụ thuộc mật thiết vào quy mô nguồn vốn, thể hiện khả năng chịu rủi ro của ngân hàng. Nếu các ngân hàng liên tục nới rộng quy mô cho vay mà không tăng vốn tương ứng, năng lực chịu đựng rủi ro của hệ thống sẽ suy giảm khi chỉ số an toàn vốn thấp đi. Do đó, việc tăng quy mô vốn là nhiệm vụ các ngân hàng thương mại cần chủ động thực hiện phù hợp với mục tiêu tăng trưởng của mình.

Trong dài hạn, để thị trường tài chính phát triển bền vững, như tôi đã nói ở trên, cần phát triển các thị trường đồng bộ như trái phiếu, tiền tệ v.v. để nâng cao hiệu quả huy động và cân đối nguồn vốn đầu tư – tiết kiệm trong nền kinh tế.

PV: Dự báo về tăng trưởng GDP năm 2026, các tổ chức quốc tế tỏ ra khá thận trọng. Theo báo cáo của ADB, sau khi đạt đỉnh 7,4% vào năm 2025, tăng trưởng của Việt Nam dự báo sẽ giảm xuống còn 6,4% vào năm 2026, vậy điều gì có thể giúp Việt Nam xoay chuuyển tình thế và tăng trưởng đột phá thưa ông?

Chuyên gia Nguyễn Bá Hùng: Dự báo tăng trưởng mà ADB đưa ra đặt trong bối cảnh tăng trưởng toàn cầu năm 2026 dự kiến sẽ thấp hơn năm 2025 khi các động lực tạm thời từ năm trước lắng xuống. Mặt khác, các đối tác thương mại lớn của Việt Nam cũng được dự báo sẽ gặp khó khăn. Trong đó, kinh tế Mỹ dự kiến còn nhiều bất định giảm tốc từ 2% (2025) xuống 1,7%.

 

Nền kinh tế Việt Nam được dự báo tăng trưởng khả quan so với mặt bằng chung khu vực ASEAN khi vẫn có cơ hội lớn trong xuất khẩu, đặc biệt là khối FDI. Bên cạnh đó, đầu tư công cũng có dư địa khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn.

Dự địa lớn cho đầu tư công sẽ là một công cụ quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng. Nợ công của Việt Nam hiện mới chỉ ở mức 34% GDP, những mỗi năm quy mô GDP đều tăng lên cộng với chủ trương mỗi năm tăng quy mô đầu tư công thêm khoảng 2% GDP, con số này tương đương hàng năm trên 10 tỷ đô la Mỹ.Vấn đề mấu chốt không phải là chuyện tăng số vốn mà cái quan trọng hơn là phải tăng cái hiệu quả sử dụng vốn.

Tựu trung lại, có ba trọng tâm có thể tạo đột phá trong tăng trưởng thời gian tới.

Thứ nhất, không nên chỉ tập trung vào việc tăng số lượng vốn đầu tư mà phải ưu tiên hiệu quả sử dụng vốn. Cần rút ngắn thời gian phê duyệt dự án đầu tư công và giảm chi phí tuân thủ cho đầu tư tư nhân.

Thứ hai, tiếp tục cải cách môi trường kinh doanh. thay vì sử dụng các biện pháp hỗ trợ tình thế như trợ cấp lãi suất, Chính phủ nên tập trung vào cải cách thể chế, giảm thuế, phí và đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Cuối cùng là quản trị thực thi, tránh tình trạng ban hành chính sách nhanh nhưng thiếu nguồn lực thực hiện dẫn đến trì trệ. Các dự án cần được thẩm định kỹ lưỡng về tính khả thi kinh tế thay vì chỉ mang tính chất chính trị nhất thời.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Hạ An
Alex Chu
Doanh nghiệp và Kinh doanh