Ghi nhận trong sáng nay, giá tiêu trong nước tiếp tục ổn định, dao động ở mức 148.000 – 150.000 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Lắk vẫn là địa phương có giá thu mua cao nhất, đạt 150.000 đồng/kg. Theo sau là Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) và Bà Rịa – Vũng Tàu (TP. HCM), cùng ghi nhận mức giá khoảng 149.000 đồng/kg. Tại Gia Lai, giá thu mua ở mức 148.500 đồng/kg, trong khi Đồng Nai duy trì mức 148.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 26/1 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
150.000 |
- |
|
Gia Lai |
148.500 |
- |
|
Đắk Nông |
149.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
149.000 |
- |
|
Bình Phước |
148.000 |
- |
|
Đồng Nai |
148.000 |
- |
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen của Indonesia tiếp tục được niêm yết ở mức 6.647 USD/tấn, tiêu đen Brazil ASTA 570 đạt 6.000 USD/tấn, trong giá tiêu đen Malaysia ở mức 9.000 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục dao động trong khoảng 6.400 – 6.600 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 26/1 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.647 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.000 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.000 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.400 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.600 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok Indonesia đạt 9.141 USD/tấn. Trong khi đó, tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng lần lượt được giao dịch ở mức 9.150 USD/tấn và 12.000 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 26/1 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.141 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.000 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.150 |
- |
Theo số liệu của Hải quan Trung Quốc, nước này đã nhập khẩu tổng cộng 7.847 tấn hồ tiêu chính ngạch trong 11 tháng năm 2025, với trị giá 54,36 triệu USD, giảm 18,9% về lượng nhưng tăng 5,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024.
Chủ yếu do nhập khẩu từ Indonesia, nguồn cung lớn nhất, giảm mạnh 32,4% về lượng và 14,7% về trị giá, đạt 3.679 tấn, trị giá 24,06 triệu USD. Thị phần của Indonesia trong tổng nhập khẩu hồ tiêu của Trung Quốc theo đó đã giảm từ mức 56,2% xuống còn 46,9%.
Ngược lại, nhập khẩu từ nguồn cung lớn thứ hai là Việt Nam lại tăng mạnh 12,8% về lượng và 59,3% về trị giá, đạt 3.406 tấn, trị giá 24,57 triệu USD. Với kết quả này, thị phần của hồ tiêu Việt Nam tại thị trường Trung Quốc tăng mạnh từ 31,2% lên 43,4%. Đáng chú ý, nếu xét về kim ngạch thì Việt Nam hiện đã vươn lên đứng đầu với thị phần chiếm 42,5% so với 44,3% của Indonesia.
Sự thay đổi này đến từ giá xuất khẩu hồ tiêu bình quân của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 7.212 USD/tấn, tăng 41,3% so với cùng kỳ năm 2024 và cao hơn nhiều so với mức giá 6.540 USD/tấn của Indonesia.
Điều này cho thấy hồ tiêu Việt Nam ngày càng được thị trường Trung Quốc ưa chuộng, dù mức giá cao hơn đáng kể so với các nhà cung cấp khác. Đồng thời, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang thể hiện xu hướng chuyển dịch mạnh sang xuất khẩu chính ngạch vào thị trường này.
Trong khi đó, theo số liệu của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), Trung Quốc vươn lên trở thành thị trường xuất khẩu hồ tiêu lớn thứ hai của Việt Nam trong năm 2025, với khối lượng đạt 19.923 tấn (bao gồm cả chính ngạch và tiểu ngạch), tăng mạnh 88% so với năm 2024. Thị phần của Trung Quốc theo đó tăng từ 4,2% lên 8,1%.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-261-trung-quoc-tang-manh-nhap-khau-tieu-tu-viet-nam-giam-mua-tu-indonesia-2026126363612.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/