Giá lúa gạo hôm nay 27/4: Diễn biến trái chiều, xuất khẩu gạo giảm cả lượng và trị giá

Giá lúa gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tăng giảm trái chiều. Theo Cục Hải quan, lũy kế đến hết ngày 15/4/2026, Việt Nam đã xuất khẩu 2,8 triệu tấn gạo, tương đương mức trị giá đạt 1,3 tỷ USD, giảm 1,3% về lượng và 10,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Giá lúa gạo hôm nay

Cuối tuần qua, giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tăng giảm trái chiều.

Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 tăng 140 đồng/kg, lên mức 8.400 – 8.450 đồng/kg. Đáng chú ý, gạo nguyên liệu CL 555 tăng tới 300 đồng/kg, đạt 8.600 – 8.800 đồng/kg.

Ở nhóm phụ phẩm, tấm 2 vẫn duy trì ở mức 7.250 – 7.350 đồng/kg. Tuy nhiên, giá cám tăng 50 đồng/kg, lên 6.600 – 6.750 đồng/kg.

Với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, hiện giá lúa tươi OM 18 giảm 100 đồng/kg dao động ở mốc 6.000 - 6.100; giá lúa OM 5451 (tươi) giảm 200 đồng/kg dao động mốc 5.600 - 5.700 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; giá lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.000 - 6.100; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg.

Giá lúa gạo ĐVT Giá tại chợ (đồng) Tăng (+), giảm (-) so với hôm trước
- Nguyên liệu IR 504 kg 8.400 – 8.450 +140
- Nguyên liệu CL 555 kg 8.600 – 8.800 +300
- Tấm 2 kg 7.250 – 7.350 -
- Cám kg 6.600 – 6.750 +50
- Lúa tươi OM 18 kg 6.000 – 6.100 -100
- Lúa tươi Đài Thơm 8 kg 6.000 – 6.100 -
- Lúa tươi OM 5451 kg 5.600 – 5.700 -200
- Lúa tươi IR 50404 kg 5.400 – 5.500 -100
- Lúa tươi OM 34 kg 5.100 – 5.200 -

Bảng giá gạo hôm nay 27/4 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. (Nguồn: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Luagaoviet.com)

Giá gạo xuất khẩu

Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo thơm 5% tấm vẫn được chào bán ở mức 490–500 USD/tấn, giá gạo Jasmine của Việt Nam vẫn đang được giao dịch ở mức 486 - 490 USD/tấn, còn gạo trắng 5% tấm đạt 386 – 390 USD/tấn.

Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm dao động trong khoảng 388 – 392 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Pakistan được giao dịch ở mức 358 - 362 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo trắng 5% tấm dao động ở mức 346 - 350 USD/tấn; còn gạo đồ 5% tấm đạt 344–348 USD/tấn.

 

Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong nửa đầu tháng 4/2026 đạt 530.991 tấn, tương đương mức trị giá đạt 246,4 triệu USD, giảm 2,1% về lượng và 8,7% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Lũy kế đến hết ngày 15/4/2026, Việt Nam đã xuất khẩu 2,8 triệu tấn gạo, tương đương mức trị giá đạt 1,3 tỷ USD, giảm 1,3% về lượng và 10,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhận chủ yếu do giá xuất khẩu giảm 9,3% so với cùng kỳ, chỉ đạt bình quân 469 USD/tấn.

Về thị trường, trong quý I/2026, Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất của gạo Việt Nam. Xuất khẩu sang thị trường này đã phục hồi sau một năm sụt giảm do các biện pháp hạn chế nhập khẩu, với khối lượng đạt gần 1,2 triệu tấn, trị giá 521,2 triệu USD, tăng 21,3% về lượng và 6,7% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Với kết quả này, Philippines hiện chiếm hơn một nửa, tương ứng 52,4% khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, so với mức 48,5% của cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, Trung Quốc vươn lên vị trí thứ hai về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam trong quý I, với khối lượng đạt 334.501 tấn, trị giá 167 triệu USD, tăng lần lượt 44,1% về lượng và 44,4% về trị giá. Thị phần của thị trường này cũng tăng đáng kể từ 10,1% lên 14,7%.

Ngoài ra, lượng gạo xuất khẩu sang một số thị trường khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng cao như Malaysia tăng 36,2%, Ả Rập Xê út tăng 67,8%, Australia tăng 25% và Mỹ tăng 6,3%.

Tuy nhiên, lượng gạo xuất khẩu sang Singapore giảm 7,9%, Hong Kong (Trung Quốc) giảm 13,3%. Các thị trường châu Phi cũng sụt giảm đáng kể, với Ghana giảm 17,9%, Bờ Biển Ngà giảm 51,1%, Mozambique giảm 39,5% và Senegal giảm tới 98,7% so với cùng kỳ năm trước…

Báo cáo triển vọng sản lượng gạo toàn cầu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO) trong tháng 4 gần như không thay đổi so với tháng 3, do việc nâng ước tính sản lượng của Ai Cập dựa trên năng suất được bù đắp phần lớn bởi việc hạ dự báo sản lượng của Tanzania, nơi các đánh giá chính thức cho thấy điều kiện thời tiết bất lợi đã khiến sự suy giảm sản lượng nghiêm trọng hơn dự kiến trước đó.

Do đó, sản lượng gạo toàn cầu vẫn được dự báo tăng 2% trong niên vụ 2025-2026, đạt mức kỷ lục 563,3 triệu tấn (xay xát), nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, năng suất cao và diện tích gieo trồng ổn định trên khắp châu Á. Bangladesh, Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia được dự báo sẽ là những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng sản lượng, bù đắp cho sự sụt giảm tại Madagascar, Pakistan, Thái Lan, Tanzania và Mỹ.

Mức tiêu thụ gạo toàn cầu dự kiến ​​sẽ đạt đỉnh mới là 555,6 triệu tấn trong niên vụ 2025-2026, tăng 2,7% so với niên vụ 2024-2025 và về cơ bản không thay đổi so với dự báo hồi tháng 3. Nhu cầu tiêu dùng làm lương thực tiếp tục là động lực chính cho tăng trưởng này, mặc dù nguồn cung dồi dào cũng hỗ trợ tăng trưởng trong các mục đích sử dụng phi lương thực, bao gồm việc sử dụng gạo để sản xuất ethanol tại Ấn Độ.

Tồn kho gạo toàn cầu vào cuối niên vụ 2025-2026 được dự báo tăng 4,2% lên mức cao kỷ lục 219,3 triệu tấn, nhờ tồn kho dự kiến gia tăng tại các nước xuất khẩu, đặc biệt là Ấn Độ, cũng như Brazil, Thái Lan và Việt Nam và các nước nhập khẩu chủ yếu như Trung Quốc, cùng với Bangladesh và Indonesia.

Dự báo của FAO về thương mại gạo quốc tế trong năm 2026 (tháng 1-tháng 12) hiện ở mức 60 triệu tấn, giảm 1,6% so với mức cao kỷ lục năm 2025 và thấp hơn một chút so với dự báo hồi tháng 3, do những điều chỉnh giảm nhẹ đối với lượng hàng xuất khẩu dự kiến ​​từ Campuchia và Thái Lan đã được bù đắp một phần bởi triển vọng xuất khẩu khả quan hơn của Ai Cập.

Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-lua-gao-hom-nay-274-dien-bien-trai-chieu-xuat-khau-gao-giam-ca-luong-va-tri-gia-202642783711362.htm

In bài biết

Bản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/