Theo khảo sát, giá tiêu sáng nay tại các vùng nguyên liệu trên cả nước vẫn ổn định ở mức 138.000 - 141.000 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) vẫn là địa phương có mức giá cao nhất cả nước, đạt 141.000 đồng/kg. Tại Đắk Lắk, giá tiêu được giao dịch ở mức 140.000 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) có giá thu mua phổ biến ở mức 138.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 6/8 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
140.000 |
- |
|
Gia Lai |
138.000 |
- |
|
Đắk Nông |
141.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
138.000 |
- |
|
Bình Phước |
138.000 |
- |
|
Đồng Nai |
138.000 |
- |
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia tiếp tục tăng nhẹ 0,31% (21 USD/tấn) so với ngày hôm trước, lên mức 6.813 USD/tấn.
Đáng chú ý, giá tiêu đen Brazil loại ASTA 570 tăng tới 3,51% (200 USD/tấn), hiện đang được giao dịch ở mức 5.900 USD/tấn.
Tại Malaysia, giá tiêu đen vẫn tiếp tục chuỗi ngày đi ngang ở mức 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu cũng duy trì ổn định trong khoảng 5.970 - 6.050 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 6/8 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.813 |
+0,31 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.900 |
+3,51 |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.970 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.050 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 0,3% (28 USD/tấn), đạt 9.328 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu trắng xuất khẩu cũng tăng 0,6% (50 USD/tấn), lên mức 8.400 USD/tấn.
Riêng tại Malaysia, giá tiêu trắng vẫn giữ chuỗi đi ngang kéo dài ở mức 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 6/8 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.328 |
+0,30 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.400 |
+0,60 |
Theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong tháng 7/2026, Việt Nam xuất khẩu 22.743 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 147,3 triệu USD, giảm 1,6% về lượng và 2,6% về giá trị so với tháng 6/2026 nhưng vẫn tăng 8,8% về lượng so với cùng kỳ tháng 7/2025. Trong đó, tiêu đen nguyên hạt tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với 19.623 tấn, tương đương 86,3% tổng lượng xuất khẩu.
Khối hội viên VPSA xuất khẩu 19.004 tấn, giảm 7,2% so với tháng trước nhưng tăng 3,7% so với cùng kỳ, chiếm 83,6% tổng lượng xuất khẩu. Trong khi đó, khối doanh nghiệp ngoài VPSA đạt 3.739 tấn, tăng mạnh 42,8% so với tháng 6 và tăng 44,5% so với tháng 7/2025, nâng thị phần lên 16,4%. Phúc Sinh tiếp tục dẫn đầu với 2.244 tấn, tiếp theo là Olam Việt Nam (2.020 tấn) và Nedspice Việt Nam (1.838 tấn).
Về thị trường, châu Á vẫn là khu vực xuất khẩu lớn nhất với 10.389 tấn, tăng 5,1% so với tháng trước nhưng giảm 3,4% so với cùng kỳ, chiếm 45,7% tổng lượng xuất khẩu. Châu Mỹ đạt 6.131 tấn, giảm nhẹ 0,7% so với tháng 6 nhưng tăng mạnh 56,4% so với cùng kỳ; châu Âu đạt 5.221 tấn, giảm 9,2% so với tháng trước nhưng tăng 10,3% so với cùng kỳ.
Đáng chú ý, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng đột biến 206,9% so với tháng 6, trong khi xuất khẩu sang UAE giảm 36,0%. Nhìn chung, dù xuất khẩu giảm nhẹ so với tháng trước, nhu cầu tích cực từ Mỹ và đặc biệt là Trung Quốc đã giúp lượng xuất khẩu tháng 7 vẫn cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm 2025.
Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 168.429 tấn Hồ tiêu, kim ngạch đạt 1,087 tỷ USD, tăng 16,1% về lượng và 10,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025 (145.046 tấn). Trong đó, khối hội viên VPSA xuất khẩu 137.640 tấn, tăng 10,3%, chiếm 81,7% tổng lượng xuất khẩu; trong khi khối doanh nghiệp ngoài VPSA đạt 30.789 tấn, tăng mạnh 52,3%, nâng thị phần lên 18,3%.
Trong nhóm doanh nghiệp xuất khẩu lớn, Olam Việt Nam dẫn đầu với 14.471 tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ, chiếm 8,6% tổng lượng xuất khẩu. Tiếp theo là Phúc Sinh với 14.266 tấn (tăng 15,7%), Nedspice Việt Nam đạt 12.099 tấn (giảm 6,3%), Haprosimex JSC đạt 11.437 tấn (tăng 52,2%) và Pearl Group đạt 9.079 tấn (tăng 22,5%).
Về thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực xuất khẩu lớn nhất với 76.845 tấn, tăng 12,3% so với cùng kỳ và chiếm 45,6% tổng lượng xuất khẩu. Châu Mỹ đạt 45.470 tấn, tăng mạnh 34,0%, chiếm 27,0%, trong khi châu Âu đạt 36.140 tấn, tăng 7,5%, chiếm 21,5%. Xuất khẩu sang châu Phi cũng tăng 10,0%, đạt 9.964 tấn.
Trong các thị trường đơn lẻ, Mỹ tiếp tục là thị trường lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam trong 7 tháng đầu năm với 40.712 tấn, tăng 31,8% so với cùng kỳ. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 17.110 tấn, tăng mạnh 55,8%, trong khi Hà Lan tăng 48,8% lên 6.136 tấn và Thái Lan tăng 88,7% lên 6.913 tấn. Ngược lại, xuất khẩu sang Đức giảm 18,1% và Ấn Độ giảm 26,4% so với cùng kỳ.
Nhìn chung, xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026 duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ nhu cầu cải thiện tại các thị trường chủ lực như Mỹ, Trung Quốc và Hà Lan, đồng thời sự tăng trưởng mạnh của khối doanh nghiệp ngoài VPSA cũng góp phần thúc đẩy tổng lượng xuất khẩu của cả nước.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-68-xuat-khau-ho-tieu-khoi-sac-trong-7-thang-dau-nam-gia-dang-co-xu-huong-tang-tro-lai-20268673037313.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/