Theo khảo sát, giá tiêu hôm nay dao động trong khoảng 137.000–140.000 đồng/kg, tăng mạnh tại Đắk Lắk và giữ ổn định ở các địa phương khác.
Cụ thể, giá tiêu tại Đắk Lắk tăng vọt 1.500 đồng/kg, lên mức 140.000 đồng/kg – cao nhất trên thị trường.
Trong khi đó, Đắk Nông (Lâm Đồng) vẫn giữ giá ổn định ở mức 139.500 đồng/kg, Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) đạt 137.500 đồng/kg, Gia Lai và Bình Phước (Đồng Nai) cùng giao dịch ở mức 137.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 23/10 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
140.000 |
+1.500 |
|
Gia Lai |
137.000 |
- |
|
Đắk Nông |
139.500 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
137.500 |
- |
|
Bình Phước |
137.000 |
- |
|
Đồng Nai |
137.000 |
- |
Theo Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu thế giới nhìn chung ổn định trong phiên giao dịch mới nhất.
Hiện tiêu đen Indonesia vẫn được niêm yết với giá 6.850 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu Malaysia giữ mức cao nhất là 9.100 USD/tấn, còn tiêu đen ASTA 570 của Brazil có giá chào bán thấp nhất, ở mức 5.800 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu cũng không biến động, với loại 500 g/l ở mức 5.950 USD/tấn và loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 23/10 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.850 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.800 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.950 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.995 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok Indonesia giữ ổn định ở mức 9.345 USD/tấn. Tại Malaysia và Việt Nam, tiêu trắng lần lượt được chào bán với giá 12.000 USD/tấn và 8.450 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 23/10 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.354 |
+0,93 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.000 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.450 |
- |
Theo số liệu sơ bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong 15 ngày đầu tháng 10/2026, Việt Nam xuất khẩu 10.417 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 69,1 triệu USD, giảm 4,6% về lượng và 1,3% về giá trị so với nửa đầu tháng 9/2026, tương đương giảm 498 tấn.
Về thị trường, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất, đạt 2.666 tấn, chiếm 25,6% tổng lượng xuất khẩu, giảm 8,2% so với nửa đầu tháng trước.
Trung Quốc đứng thứ hai với 1.534 tấn, chiếm 14,7%, giảm 27,8%. Lượng xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 591 tấn, lớn hơn mức giảm chung của cả nước, cho thấy đây là yếu tố chính kéo tổng xuất khẩu đi xuống. Đáng chú ý, Trung Quốc nhập khẩu 612 tấn tiêu trắng, chiếm 31,6% tổng lượng tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam trong kỳ.
Theo khu vực, châu Á vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 4.651 tấn, tương đương 44,6%, nhưng giảm 19,0%. Ngoài Trung Quốc, xuất khẩu sang Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đạt 452 tấn, giảm 20,7%. Châu Mỹ đạt 2.821 tấn, chiếm 27,1%, giảm 9,3%, chủ yếu do xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm.
Ngược lại, châu Âu và châu Phi tăng trưởng, bù đắp một phần mức giảm tại châu Á và châu Mỹ. Xuất khẩu sang châu Âu đạt 2.180 tấn, tăng 36,8%, chiếm 20,9%; trong đó Hà Lan đạt 460 tấn, tăng 0,7%. Châu Phi đạt 765 tấn, tăng 63,1%, chiếm 7,3%. Đặc biệt, Ai Cập đạt 470 tấn, tăng 944,4% từ mức nền 45 tấn của nửa đầu tháng 9, trở thành điểm tăng trưởng nổi bật trong kỳ.
Về doanh nghiệp, các hội viên VPSA xuất khẩu 8.676 tấn, tăng 1,3%, chiếm 83,3% tổng lượng xuất khẩu. Trong khi đó, nhóm doanh nghiệp ngoài VPSA đạt 1.741 tấn, giảm 25,8%, chiếm 16,7%.
Nedspice Việt Nam dẫn đầu với 1.060 tấn, tăng 13,7%; tiếp theo là Olam Việt Nam đạt 1.028 tấn, giảm 2,0%; Haprosimex JSC đạt 790 tấn, tăng 15,0%; Phúc Sinh đạt 711 tấn, giảm 33,6%; Pearl Group đạt 628 tấn, tăng 18,7%. Năm doanh nghiệp này chiếm khoảng 40,5% tổng lượng hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam trong nửa đầu tháng 10/2026.
Trong 15 ngày đầu tháng 10/2026, Việt Nam nhập khẩu 659 tấn Hồ tiêu, gồm 542 tấn tiêu đen và 117 tấn tiêu trắng, kim ngạch đạt 4,2 triệu USD. So với nửa đầu tháng 9/2026, lượng nhập khẩu giảm 31,3%, tương đương giảm 300 tấn, kim ngạch giảm 20,8%.
Indonesia là nguồn cung lớn nhất với 202 tấn, chiếm 30,7% tổng lượng nhập khẩu, giảm 10,6% so với nửa đầu tháng trước. Trong đó, tiêu trắng đạt 107 tấn, chiếm tới 91,5% tổng lượng tiêu trắng Việt Nam nhập khẩu trong kỳ.
Brazil đứng thứ hai với 155 tấn, chiếm 23,5%, tăng 101,3%; toàn bộ là tiêu đen. Nhập khẩu từ Campuchia đạt 143 tấn, chiếm 21,7%, giảm mạnh 75,6%. Ba thị trường này cung cấp tổng cộng 500 tấn, tương đương 75,9% lượng nhập khẩu.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-2310-tang-manh-1500-dongkg-tai-dak-lak-202610236593209.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/