Ghi nhận trong sáng nay, giá tiêu trong nước dao động trong khoảng 141.500 – 144.000 đồng/kg, không thay đổi so với ngày hôm trước.
Cụ thể, Đắk Lắk và Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục thu mua cao nhất ở mức 144.000 đồng/kg. Theo sau là Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) và Đồng Nai, với 143.000 đồng/kg, trong khi Gia Lai ghi nhận giá thu mua ở mức 141.500 đồng/kg – thấp nhất trên thị trường.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 14/5 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
144.000 |
- |
|
Gia Lai |
141.500 |
- |
|
Đắk Nông |
144.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
143.000 |
- |
|
Bình Phước |
143.000 |
- |
|
Đồng Nai |
143.000 |
- |
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia tiếp tục tăng ngày thứ 3 liên tiếp, thêm 0,11% (8 USD/tấn) so với ngày hôm trước, lên 7.050 USD/tấn.
Giá tiêu đen Brazil loại ASTA 570 cũng tăng 0,8% (100 USD/tấn), được báo giá ở mức 6.250 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tiêu đen Malaysia và Việt Nam tiếp tục đi ngang. Hiện tiêu đen Malaysia được niêm yết ở mức 9.300 USD/tấn, trong khi giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam dao động trong khoảng 6.100 – 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 14/5 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
7.050 |
+0,11 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.250 |
+0,8 |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.200 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 0,11% (10 USD/tấn) so với ngày hôm trước, đạt 9.244 USD/tấn.
Tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng xuất khẩu lần lượt được chào bán ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn, không ghi nhận biến động mới.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 14/5 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.244 |
+0,11 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.000 |
- |
Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dẫn số liệu thống kê từ Cục Hải quan, cho biết xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 4/2026 đạt 30,9 nghìn tấn, trị giá 193,88 triệu USD, tăng 1,3% về lượng nhưng giảm 2,9% về trị giá so với tháng 3/2026; so với tháng 4/2025 tăng 17,3% về lượng và tăng 5,4% về trị giá.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam đạt 96,8 nghìn tấn, trị giá xấp xỉ 623 triệu USD, tăng 31,6% về lượng và tăng 22,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Giá bình quân xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 4/2026 ở mức 6.265 USD/tấn, giảm 4,1% so với tháng 3/2026 và giảm 10,2% so với tháng 4/2025. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, giá bình quân xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam ở mức 6.434 USD/tấn, giảm 6,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam tiếp tục xu hướng tăng trong tháng 4/2026, trong đó, xuất khẩu sang một số thị trường tăng so với tháng 4/2025 như: Mỹ, Thái Lan, Ai Cập, Philippines, Hà Lan… Tuy nhiên, xuất khẩu hạt tiêu sang một số thị trường giảm như: Đức, Ấn Độ, Anh.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu chính hạt tiêu của Việt Nam, chiếm 25,57% tổng lượng, tiếp đến là thị trường Đức, chiếm 5,07%.
Đáng chú ý, xuất khẩu sang thị trường Thái Lan mặc dù chỉ chiếm 4,43% tổng lượng nhưng đã tăng mạnh trong những tháng gần đây và Thái Lan tiếp tục giữ vị trí thứ ba trong số các thị trường xuất khẩu chủ lực tiêu của Việt Nam.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang thị trường Thái Lan đạt 4,3 nghìn tấn, trị giá 30,7 triệu USD, tăng mạnh 130,1% về lượng và tăng 103,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Với xu hướng xuất khẩu như hiện nay, nhiều khả năng Thái Lan sẽ sớm vượt Đức để trở thành thị trường xuất khẩu hạt tiêu lớn thứ hai của Việt Nam.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-145-indonesia-va-brazil-lien-tuc-dieu-chinh-tang-viet-nam-van-giu-gia-2026514721883.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/