Bài toán kinh tế trong chiến tranh (Bài 2): Chi phí hữu hình biến thành vô hình

Chiến tranh luôn đi kèm với những tờ hóa đơn đắt đỏ. Nhưng nếu trong quá khứ, chi phí này được hiển thị rõ ràng qua các đợt tăng thuế trực tiếp, thì ngày nay, hệ thống tài chính đã biến gánh nặng xung đột thành những nghĩa vụ vô hình. Bằng cơ chế nợ công và lạm phát, chi phí cho chiến tranh đã âm thầm chuyển từ bàn làm việc của chính phủ sang mâm cơm của từng hộ gia đình.

Bài toán nghìn năm tuổi

Khi nhắc đến Tôn Tử, số đông thường liên tưởng đến các chiến thuật điều binh khiển tướng hay mưu kế chiến trận. Thế nhưng, tư tưởng của ông có bản chất là kinh tế học và quản trị rủi ro. Tôn Tử không coi chiến tranh là một sân khấu để phô diễn sức mạnh cơ bắp hay lòng dũng cảm, mà ông nhìn nhận nó như một dự án đầy rủi ro.

Ngay từ phần mở đầu của Binh Pháp, ông đã khẳng định: "Chiến tranh là việc lớn của quốc gia", ám chỉ mức độ nguy hiểm và khả năng phá hủy cấu trúc xã hội của nó. Tôn Tử bị ám ảnh bởi việc tính toán chi phí, ông cảnh báo rõ ràng rằng "khi quân đội cách xa nhà hai mươi dặm, ngân khố sẽ tiêu tốn hàng trăm thước lúa mì".

Đối với ông, hậu cần không chỉ là công cụ hỗ trợ chiến lược, mà hậu cần chính là chiến lược. Mọi quyết định tiến hay thoái trên chiến trường đều gắn liền với bài toán chi phí cơ hội và khả năng duy trì thanh khoản của một quốc gia. Những nhà lãnh đạo kéo dài các chiến dịch quân sự chính là những người đang hành xử vô trách nhiệm với tài chính quốc gia.

Trong thế giới trung cổ, chi phí chiến tranh là một nỗi đau kinh tế hữu hình. Khi các nhà cai trị muốn khởi xướng một chiến dịch quân sự, họ chỉ có những lựa chọn thô sơ như tăng sưu thuế, trưng dụng lương thực, sung công của cải từ dân chúng để nuôi bộ máy chiến tranh. Một đội quân 30 vạn người viễn chinh trong một năm cần bao nhiêu thóc gạo, trâu ngựa, quần áo, sắt thép, … đều lấy từ trong dân.

Các chính sách mang tính tước đoạt trắng trợn này thường làm nảy sinh tâm lý bất mãn và các cuộc nổi dậy. Các nhà nước sau này hiểu ra rằng, nếu sử dụng cơ chế tài chính để khéo léo phân bổ gánh nặng chi phí chiến tranh, người dân sẽ khó cảm nhận được sự mất mát trực tiếp.

Lời giải mang tên "vay mượn từ tương lai"

Bước ngoặt trong nghệ thuật tài trợ chiến tranh xuất hiện vào năm 1694 giữa cuộc chiến tranh Anh – Pháp. Theo đề xuất của doanh nhân người Scotland William Paterson, một nhóm nhà đầu tư đã cho chính phủ Anh vay 1,2 triệu bảng Anh – một con số rất lớn thời đó, đổi lại nhóm này có quyền thành lập ngân hàng Bank of England (BOE) để nhận lãi từ khoản vay và quản lý nợ công.

Về sau, BOE trở thành ngân hàng trung ương của Anh với đầy đủ quyền lực quản lý cung tiền, định đoạt lãi suất, ổn định hệ thống tài chính, và là “người cho vay cuối cùng” cho các ngân hàng thương mại.

Năm 1694 là lần đầu tiên một chính phủ có thể vay mượn quy mô lớn từ giới tư nhân thông qua phát hành trái phiếu vĩnh cửu, khả năng trả nợ được bảo đảm bằng quyền thu thuế trong tương lai. Gánh nặng chi trả tức thì được chuyển hóa thành các nghĩa vụ nợ kéo dài nhiều thập kỷ.

Đến đầu thế kỷ 20, mô hình này tiến hóa thành nghệ thuật tài trợ thông qua "Trái phiếu Chiến tranh". Bằng các chiến dịch truyền thông rầm rộ, các chính phủ đã biến việc mua trái phiếu thành biểu tượng của lòng yêu nước. Ở cả Anh, Đức và Mỹ, người dân xếp hàng để dùng tiền tiết kiệm mua trái phiếu với niềm tin rằng họ đang đóng góp trực tiếp vào chiến thắng.

Bản chất của những trái phiếu này là để duy trì thanh khoản cho cỗ máy chiến tranh. Khi xung đột kết thúc, nhà đầu tư nhận lại tiền gốc, nhưng lạm phát đã xóa sổ sức mua thực tế của số tiền đó.

Tại Mỹ, mặt bằng giá cả giai đoạn 1917-1920 đã tăng gần gấp đôi, khiến số tiền cho vay chỉ còn mua được một nửa lượng hàng hóa so với ban đầu. Nỗi đau kinh tế không biến mất mà chỉ được đẩy về tương lai thông qua nợ, và lạm phát chính là công cụ thu thuế mà không cần quốc hội nào phải thông qua.

Cỗ máy in tiền 2026

Trong bối cảnh thế kỷ 21, nghệ thuật "vay mượn từ tương lai" đang được chính phủ Mỹ ứng dụng với mức độ tinh vi nhất và quy mô lớn nhất.

Vào thời kỳ khủng 2008 cũng như đại dịch COVID 2020 – 2022, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) đã liên tục in tiền thông qua các gói nới lỏng định lượng (QE) trị giá hàng nghìn tỷ USD để tài trợ cho nhu cầu vay nợ của Washington.

Tính đến ngày 17/3/2026, tổng nợ công liên bang đã chạm mốc 39 nghìn tỷ USD. Chi phí trả lãi vay trong quý 1 năm tài chính 2026 vọt lên 270 tỷ USD, chiếm 14% tổng chi ngân sách và dự kiến đạt 1.000 tỷ USD cho toàn bộ năm tài chính.

Nợ công của Mỹ liên tục phá đỉnh khi Lầu Năm Góc muốn thêm ngân sách cho chiến tranh ở Iran.

Khi chiến sự tại Iran bùng nổ cuối tháng 2/2026, giá dầu thô Brent lên sát 120 USD/thùng, giá xăng, diesel và khí đốt cũng tăng vọt, rủi ro lạm phát lên cao khiến Fed không thể sớm cắt giảm lãi suất hay trực tiếp in tiền để mua trái phiếu chính phủ.

Đúng lúc đó, Bộ Chiến tranh và chính phủ Mỹ đang đề xuất quốc hội chi thêm 200 tỷ USD ngân sách cho cuộc chiến với Iran.

Để tài trợ cho khối nợ khổng lồ mà mà không bị mang tiếng thổi bùng lạm phát, ngày 19/3, Fed và các cơ quan quản lý đã bỏ phiếu thông qua việc nới lỏng toàn diện các yêu cầu về vốn cho hệ thống ngân hàng. Bằng cách cởi trói quy định về Tỷ lệ đòn bẩy bổ sung (SLR) và nới lỏng các yêu cầu khắt khe của chuẩn mực Basel III, giới chức quản lý cho phép các ngân hàng thương mại tạo ra dòng tín dụng mới để hấp thụ trái phiếu chính phủ Mỹ không giới hạn.

Động thái này giải phóng khoảng 175 tỷ USD vốn dư thừa của các ngân hàng lớn ngay lập tức. Đây thực chất là một kịch bản nới lỏng định lượng (QE) ẩn danh: chính phủ phát hành nợ để chi tiêu, và Phố Wall thay Fed "tạo ra tiền" để mua lại khối nợ. Chi phí chiến tranh đã được âm thầm chuyển vào bảng cân đối kế toán của khu vực tư nhân.

Mỹ làm, cả thế giới chịu

Lượng tiền mà các ngân hàng dùng để mua nợ chính phủ thực chất là dòng tín dụng mới. Đẩy hàng trăm tỷ USD vào nền kinh tế trong khi lượng hàng hóa thực tế sụt giảm (do chiến sự ở Iran làm thiếu hụt nguyên liệu, nhiên liệu cho sản xuất kinh doanh) là công thức chắc chắn tạo ra lạm phát.

Do tính chất liên thông toàn cầu của thị trường năng lượng, chi phí chiến tranh này không do riêng nước Mỹ gánh chịu. Năm 2024, Mỹ tiêu thụ khoảng 20,5 triệu thùng dầu mỗi ngày, chiếm 20% tổng toàn cầu. Nói cách khác, Mỹ chỉ gánh chịu 20% thiệt hại từ cú sốc giá năng lượng do Mỹ châm ngòi, trong khi 80% gánh nặng lạm phát còn lại tự động được đẩy sang các nền kinh tế khác từ châu Á đến châu Âu. Ngay tại Việt Nam, giá xăng từ 21.000 đồng/lít trước chiến tranh Trung Đông có lúc vọt lên 34,000 đồng/lít vào cuối tháng 3/2026.

 

Không chỉ phân bổ gánh nặng trên bình diện quốc tế, chi phí chiến tranh còn khoét sâu thêm sự bất bình đẳng trong nội tại mỗi quốc gia. Lạm phát có tác động như một loại thuế lũy thoái, đánh mạnh nhất vào những người có tình hình tài chính eo hẹp.

Giá nhiên liệu và thực phẩm tăng 20-30% chỉ chiếm một phần nhỏ trong thu nhập của người giàu, nhưng lại khiến nhiều gia đình nghèo phải điêu đứng.

Những người sở hữu bất động sản, cổ phần các tập đoàn quốc phòng hưởng lợi từ dòng vốn chính phủ sẽ thấy tài sản của mình tăng giá theo lạm phát. Lạm phát đối với tầng lớp thượng lưu này không phải là rủi ro, mà là một đối tác kinh doanh thầm lặng giúp khuếch đại sự giàu có.

Ngược lại, tầng lớp lao động và dân nghèo mất nhiều nhất. Giá lương thực, tiền thuê nhà và xăng dầu tăng vọt bào mòn trực tiếp vào đồng lương cố định hàng tháng. Khoảng cách giàu nghèo bị nới rộng, những người yếu thế nhất trong xã hội phải cõng trên lưng gánh nặng tài chính của chiến tranh.

Các nước càng vay nợ nhiều để phục vụ chiến tranh thì gánh nặng trả nợ càng lớn. Thay vì trực tiếp tăng thuế hay trưng dụng tài sản mỗi lần tham chiến, chính phủ Mỹ ngày nay chọn cách đi vay, sau đó lấy tiền thuế tương lai để trả nợ dần.

Số tiền thuế lẽ ra được dùng cho bệnh viện, trường học, bảo hiểm y tế, an sinh xã hội, … lại chảy vào túi các nhà tư bản lớn đã cho chính phủ vay.

Tháng 3/2026, một phần chính phủ Mỹ - bao gồm Cục Quản lý An ninh Giao thông (TSA) - đang đóng cửa vì bất đồng ngân sách giữa hai đảng Dân chủ - Cộng hòa, công chức phải làm việc không lương. Hàng nghìn hành khách phải xếp hàng dài nhiều giờ liền vì an ninh sân bay thiếu hụt. Nhưng Washington vẫn chi hàng tỷ USD mỗi ngày cho bom đạn rót xuống Iran.

Chi cho lãi vay chiếm 14% tổng chi ngân sách Mỹ, lớn hơn chi cho quốc phòng.

Việc trưng dụng tài sản của người dân để tài trợ chiến tranh giống như việc cho đứa trẻ một viên kẹo rồi thô bạo giật lại. Còn việc không đầu tư cho y tế, giáo dục để có tiền nuôi chiến tranh giống như việc ngay từ đầu đã không cho đứa trẻ viên kẹo. Kết quả cuối cùng giống nhau (đều không có kẹo), nhưng một cách làm dẫn tới phản kháng dữ dội, một cách lại âm thầm kín kẽ.

Bản chất chi phí cho các cuộc chiến không bao giờ biến mất, nó chỉ chuyển từ dạng trực tiếp, thô kệch, lộ liễu sang một cơ chế gián tiếp, tinh vi và kín đáo hơn.

Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/bai-toan-kinh-te-trong-chien-tranh-bai-2-chi-phi-huu-hinh-bien-thanh-vo-hinh-202632811233688.htm

In bài biết

Bản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/