Vượt qua những tác động ban đầu từ xung đột Trung Đông, GDP quý I/2026 vẫn tăng trưởng tích cực với mức 7,83% (mức cao nhất cùng kỳ từ năm 2011). Động lực tăng trưởng quý I/2026 diễn ra đồng đều trên cả ba khu vực kinh tế.
Tuy nhiên, để đạt được mức tăng trưởng GDP cao trên 10% trong bối cảnh quốc tế phức tạp, diễn biến nhanh, vẫn còn rất nhiều thách thức.
Chính phủ nhiệm kỳ mới đang hành động quyết liệt nhằm ổn định vĩ mô và đảm bảo tăng trưởng hợp lý. Các kịch bản kinh tế đều hướng đến mức tăng trưởng cao hơn hoặc tương đương năm 2025 và cân nhắc thận trọng yếu tố chiến sự Trung Đông.
Trao đổi với chúng tôi, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ, cho rằng chiến sự tại Iran và việc eo biển Hormuz bị phong tỏa khiến các tuyến vận tải chiến lược gián đoạn, đẩy giá năng lượng và chi phí logistics, bảo hiểm tăng.
Đồng thời, xu hướng bảo hộ và bất định thuế quan vẫn hiệu hữu khiến thương mại và đầu tư quốc tế trở nên khó khăn, rủi ro hơn, nguy cơ "đình lạm" (tăng trưởng giảm tốc trong khi lạm phát tăng trở lại) tăng.
Với Việt Nam, TS. Cấn Văn Lực và nhóm Nghiên cứu dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam cả năm 2026 theo ba kịch bản.
Trong đó, kịch bản cơ sở (xác xuất 60%), nếu chiến sự tại Iran không lan rộng, chấm dứt trong 8 tuần, tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 có thể giảm 0,6 - 0,8 điểm % so với mục tiêu đề ra, với tăng trưởng xuất khẩu có thể giảm 0,8 - 1 điểm %; thu hút vốn FDI giảm 0,8 - 1 điểm % do tâm lý thận trọng của nhà đầu tư và nhu cầu bên ngoài yếu đi.
Với kịch bản tiêu cực (xác xuất 30%), nếu chiến sự Iran lan rộng toàn khu vực, kéo dài 4 - 5 tháng, tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 dự kiến sẽ giảm khoảng 0,8 - 1,2 điểm % so với mục tiêu của Chính phủ; tăng trưởng xuất khẩu có thể giảm 2 điểm %; thu hút vốn FDI có thể giảm khoảng 1 - 1,5 điểm % so với không có chiến sự xảy ra.
Chuyên gia nhấn mạnh "kịch bản tiêu cực và xấu nhất là các kịch bản không mong muốn nhưng cũng cần tính đến" và cho biết trong kịch bản xấu nhất (xác xuất 10%) nếu chiến sự Iran leo thang và kéo dài đến hết năm 2026, tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 dự báo có thể giảm 1,2 - 1,5 điểm % so với mục tiêu của Chính phủ.
Đặc biệt, tăng trưởng xuất khẩu có thể giảm sâu hơn 3 điểm %; vốn FDI đăng ký giảm nhiều hơn 2 điểm % do chi phí logistics, bảo hiểm tăng mạnh, tâm lý lo ngại khiến doanh nghiệp trì hoãn đầu tư, sản xuất trong thời gian dài hơn; trong khi đó, các động lực tăng trưởng mới dựa trên KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh-số chưa phát huy hiệu quả rõ nét với tăng trưởng.
Về lạm phát, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh rằng, áp lực lạm phát còn gia tăng trong quý II và 6 tháng cuối năm 2026 do hai nguyên nhân.
Thứ nhất, các yếu tố chi phí đẩy từ giá hàng hóa – dịch vụ nhập khẩu cao hơn như nêu trên, giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý tăng theo lộ trình.
Thứ hai là, yếu tố cầu kéo bao gồm: Tăng trưởng tín dụng ước đạt 15 - 16%, giải ngân đầu tư công và tư nhân trong nước tăng khá, vòng quay tiền ở mức 0,7 - 0,8 lần, cao hơn năm 2025 nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng cao hơn.
Với kịch bản cơ sở, TS. Cấn Văn Lực và nhóm nghiên cứu BIDV dự báo rằng nếu giá xăng dầu trong nước tăng bình quân 15 - 20% so với năm 2025, chỉ số CPI bình quân năm 2026 có thể chỉ tăng thêm 0,4 - 0,6 điểm %, ở mức 4,2 - 4,7% và xoay quanh mục tiêu 4,5%.
Với kịch bản tiêu cực, nếu giá dầu thế giới bình quân ở mức 83 - 87 USD/thùng, giá xăng dầu trong nước tăng 20 - 25% so với bình quân năm 2025, CPI bình quân có thể tăng 4,3 - 4,8%. Với kịch bản xấu nhất, nếu giá dầu thế giới bình quân ở mức 90 - 95 USD/thùng, giá xăng dầu trong nước tăng 30-40% so với bình quân năm 2025, chỉ số CPI bình quân có thể bị đẩy lên mức 4,5 - 5% hoặc cao hơn.
Để vượt qua thách thức và đạt được mục tiêu tăng trưởng 10%, TS. Cấn Văn Lực và nhóm nghiên cứu đưa ra 5 kiến nghị.
Một là, tập trung thực thi hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng XIV; 9 quyết sách chiến lược, các nhiệm vụ trọng tâm tại Kết luận 18.
Trong đó, trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; cải thiện thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh; đẩy nhanh xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng; hoàn thiện các cơ sở dữ liệu phục vụ quản trị quốc gia, chuyển đổi số và hỗ trợ ra quyết định tốt hơn.
Hai là, để đối phó với tình hình chiến sự tại Trung Đông, Chính phủ cần sớm ban hành Chiến lược, đề án đảm bảo an ninh năng lượng, thực hiện hiệu quả Nghị quyết 70. Đồng thời, nâng cao vai trò của Tổ công tác về an ninh năng lượng, có đánh giá tác động với nền kinh tế và một số lĩnh vực, ngành bị ảnh hưởng nhiều và kịch bản, giải pháp ứng phó tương ứng; vận hành hiệu quả Quỹ bình ổn xăng dầu, góp phần kiểm soát lạm phát, sớm sửa đổi các quy định về kinh doanh xăng dầu phù hợp bối cảnh mới.
Đặc biệt cần phát triển hệ thống kho dự trữ năng lượng, tăng năng lực dự trữ lên khoảng 2 - 3 tháng và dần tiệm cận mức của các nước phát triển khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là 3,5 - 4 tháng.
Ba là, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và khai thác hiệu quả các động lực mới gắn với nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Cụ thể, cần giữ vững mặt trận xuất khẩu, tăng xuất khẩu dịch vụ (nhất là logistics và du lịch); Kích cầu đầu tư bằng cách giải quyết kịp thời các vướng mắc và tăng trách nhiệm người đứng đầu trong phân bổ và giải ngân đầu tư công, sớm ban hành và thực thi chiến lược thu hút FDI trong bối cảnh mới; thực hiện hiệu quả Nghị quyết 79, Nghị quyết 68,... kích cầu tiêu dùng trong nước.
Phát huy hiệu quả của các động lực tăng trưởng mới, nhất là ứng dụng KHCN, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; cải cách thể chế kinh tế; thúc đẩy tăng trưởng tại các đầu tàu kinh tế (bao gồm các khu thương mại tự do), xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng,...
Bốn là, kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó, chính sách tài khóa là chủ lực, chính sách tiền tệ bổ trợ theo hướng thận trọng, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với nhau và các chính sách vĩ mô để đảm bảo vừa ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ứng phó linh hoạt với biến động thế giới và thúc đẩy tăng trưởng.
Trong đó, điểm quan trọng là giữ ổn định mặt bằng lãi suất bằng nhiều giải pháp đồng bộ, chứ không chỉ có chính sách tiền tệ và ngân hàng; bình ổn thị trường vàng, giảm chênh lệch giá vàng trong nước so với thế giới, hạn chế tình trạng găm giữ USD, nhất là khi giá xăng dầu tăng cao và đồng USD mạnh lên để giảm áp lực tỷ giá, phấn đấu nâng hạng thị trường chứng khoán trong tháng 9/2026 và nâng hạng tín nhiệm quốc gia theo kế hoạch; Lành mạnh hóa thị trường bất động sản,...
Cùng với đó, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế; rà soát cơ cấu đầu tư công; xây dựng Đề án cải cách thị trường tài chính nhằm phát triển thị trường tài chính cân bằng hơn và giảm áp lực lên vốn tín dụng ngân hàng; phát triển thị trường phái sinh tài chính giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro tỷ giá, lãi suất; thị trường carbon, sàn giao dịch vàng, sàn giao dịch tài sản mã hóa, sở giao dịch hàng hóa, Trung tâm tài chính quốc tế…, giúp huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.
Năm là, quan tâm và tăng chất lượng tăng trưởng: sớm ban hành Đề án tăng năng suất lao động; tăng hiệu quả đầu tư (hệ số ICOR phấn đấu ở mức 4 - 4,5 lần); xây dựng Đề án nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, chú trọng đảm bảo an ninh lương thực, năng lượng, chuỗi cung ứng và an ninh mạng – dữ liệu,... chuyên gia nêu kiến nghị.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/ts-can-van-luc-tang-truong-gdp-2026-co-the-dat-9-92-neu-xung-dot-trung-dong-cham-dut-trong-8-tuan-2026415102134228.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/