Tăng trưởng hai con số dựa trên cải cách mạnh mẽ thể chế như thế nào?

Bên cạnh những động lực truyền thống như: Xuất khẩu, đầu tư dễ bị tác động bởi yếu tố bên ngoài, một nội lực quan trọng khơi thông các nguồn lực tắc nghẽn của nền kinh tế chính là sự đột phá về thể chế.

Mục tiêu đặt ra cho giai đoạn 2026 - 2030 là tăng trưởng kinh tế hơn 10%/năm thể hiện khát vọng phát triển mạnh mẽ, song để đạt được không hề đơn giản.

Bên cạnh những động lực truyền thống như: Xuất khẩu, đầu tư dễ bị tác động bởi yếu tố bên ngoài, một nội lực quan trọng khơi thông các nguồn lực tắc nghẽn của nền kinh tế chính là sự đột phá về thể chế.

Tại cuộc họp với Bộ Tư pháp sáng 11/5, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhắc lại nhiệm vụ trọng tâm và lâu dài là "tăng trưởng hai con số dựa trên cải cách mạnh mẽ thể chế".

Xây dựng và hoàn thiện thể chế phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách.

Đây là những nhiệm vụ quan trọng cho Chính phủ nhiệm kỳ mới nếu muốn giải phóng nguồn lực, đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất định. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp phát triển, đạt quy mô và trình độ quản trị cao hơn, từ đó chủ động tuân thủ quy định tốt hơn và Nhà nước có thể giảm bớt gánh quản lý bằng các thủ tục hành chính.

Sự yếu kém thể chế không chỉ do thiếu quy định

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Cường. (Ảnh: ADB Việt Nam).

Trao đổi với chúng tôi, Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Cường, chỉ ra rằng sự kém hiệu quả của thể chế tại Việt Nam không đơn thuần bắt nguồn từ việc thiếu quy định hay quy định chưa đầy đủ.

Kể từ khi tiến hành Đổi Mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, cứ mỗi khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, các mất cân đối vĩ mô lại xuất hiện, buộc Nhà nước phải thắt chặt chính sách để ổn định. Chu kỳ lặp lại này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở các chính sách điều hành ngắn hạn, mà bắt nguồn từ những hạn chế mang tính cấu trúc của thể chế kinh tế.

Nguyên nhân nằm ở, tốc độ phát triển kinh tế – xã hội còn nhanh chóng hơn cả tốc độ hoàn thiện, sửa đổi luật. Thứ hai, các vấn đề kinh tế – xã hội ngày càng mang tính đa chiều, liên ngành, trong khi cách tiếp cận làm luật vẫn chủ yếu theo ngành dọc, gần như một chiều. Hệ quả là xuất hiện độ vênh đáng kể giữa một hệ thống pháp luật mang tính đơn tuyến và thực tiễn vận động đa dạng, phức tạp.

Thứ ba, trong khi số lượng luật mới liên tục gia tăng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, thì yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính lại tạo ra sức ép ngược buộc phải cắt giảm các quy định. Hệ quả là hệ thống pháp luật thường xuyên biến động, khiến môi trường kinh doanh trở nên thiếu ổn định và khó dự đoán.

Sâu xa hơn, vấn đề nằm ở chỗ nền tảng để thể chế vận hành hiệu quả, một hệ sinh thái doanh nghiệp tư nhân đủ mạnh, vẫn chưa được hình thành. Khi nền tảng này còn thiếu, thể chế khó có thể phát huy tác dụng, bất kể số lượng quy định được bổ sung hay điều chỉnh nhiều đến mức nào.

Một đặc trưng nổi bật của khu vực tư nhân Việt Nam là sự chiếm ưu thế của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh nhỏ. Phần lớn các doanh nghiệp và hộ kinh doanh nhỏ có năng lực quản trị hạn chế, mức độ minh bạch thấp và khả năng tích lũy yếu. Trong điều kiện đó, thị trường không thể tự điều tiết một cách hiệu quả.

Những rủi ro như gian lận, trốn thuế hay vi phạm quy định dễ phát sinh, buộc Nhà nước phải đảm nhận vai trò kiểm soát trực tiếp ở mức độ cao hơn so với các nền kinh tế có hệ sinh thái doanh nghiệp phát triển.

Từ thực tế này, một cơ chế vận hành mang tính tự củng cố dần hình thành. Khi doanh nghiệp còn yếu và thiếu chuẩn mực, Nhà nước có xu hướng tăng cường quản lý thông qua việc siết chặt thủ tục, mở rộng điều kiện kinh doanh và gia tăng hoạt động thanh tra, kiểm tra. Những biện pháp này, xét về mặt quản lý, là phản ứng hợp lý nhằm giảm thiểu rủi ro thị trường. Tuy nhiên, hệ quả đi kèm là chi phí tuân thủ gia tăng và rủi ro pháp lý đối với doanh nghiệp trở nên lớn hơn.

Trong môi trường như vậy, việc mở rộng quy mô không còn là lựa chọn hấp dẫn. Nhiều doanh nghiệp có xu hướng duy trì quy mô nhỏ, hạn chế minh bạch hóa, hoặc thậm chí hoạt động trong khu vực bán chính thức để tránh gánh nặng tuân thủ.

Vì vậy, trong nhiều năm, số lượng doanh nghiệp của Việt Nam vẫn chỉ dừng lại ở khoảng một triệu. Khi phần lớn doanh nghiệp không lớn lên, cấu trúc khu vực tư nhân tiếp tục bị phân mảnh và yếu kém. Điều này lại củng cố thêm lý do để Nhà nước duy trì, thậm chí tăng cường kiểm soát do lo ngại về thất thu thuế và rủi ro thị trường.

"Theo thời gian, một vòng luẩn quẩn mang tính cơ cấu được hình thành, trong đó sự yếu kém của doanh nghiệp và mức độ can thiệp của Nhà nước liên tục củng cố lẫn nhau, khiến cả hai cùng bị mắc kẹt trong trạng thái kém hiệu quả", ông Cường cho biết.

Xây dựng hệ sinh thái DN tư nhân chuyên nghiệp

 

Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện “hành lang pháp lý” thường được xem là giải pháp trung tâm. Tuy nhiên, nếu nền tảng doanh nghiệp không thay đổi, cách tiếp cận này khó có thể mang lại cải thiện thực chất.

Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đã ra đời được một năm với chuyển động rõ nét nhất là khu vực kinh tế tư nhân đã chuyển từ tâm thế “thích ứng để tồn tại” sang tâm thế “khát vọng lớn lên”.

Khi nền kinh tế chủ yếu gồm các doanh nghiệp nhỏ, thiếu chuyên nghiệp và dễ phát sinh rủi ro, thể chế sẽ có xu hướng dựa nhiều vào tiền kiểm, thủ tục và kiểm soát trực tiếp. Ngược lại, khi xuất hiện một lực lượng doanh nghiệp đủ lớn, có năng lực quản trị tốt và minh bạch, Nhà nước có thể chuyển dần sang hậu kiểm, giảm can thiệp vi mô và dựa nhiều hơn vào các nguyên tắc thị trường.

TS. Nguyễn Minh Cường nhấn mạnh, chỉ khi hệ sinh thái doanh nghiệp tư nhân đủ lớn, đủ chuyên nghiệp, nhu cầu quản lý hành chính trực tiếp mới giảm dần. Đồng thời, áp lực từ thị trường sẽ thúc đẩy Nhà nước cải cách theo hướng thu hẹp vai trò can thiệp vi mô, tập trung vào thiết lập luật chơi, bảo đảm cạnh tranh và duy trì ổn định vĩ mô.

GS. Trần Thọ Đạt, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cũng cho rằng, để kích hoạt nội lực, không chỉ dừng lại ở việc cải cách thủ tục, mà cần tạo ra một “luật chơi” ổn định, minh bạch và những không gian đầu tư đủ lớn để doanh nghiệp tự tin bước ra khỏi vùng an toàn.

Những nỗ lực trong một năm qua của Chính phủ và cả hệ thống chính trị cho thấy đây là thời điểm rất đặc biệt. Ở phía Nhà nước, cơ hội đang được mở ra với một không gian chính sách thuận lợi hơn bao giờ hết. Nhưng ở phía doanh nghiệp, cũng cần một sự thay đổi tư duy tương ứng, GS. Đạt cho hay.

Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/tang-truong-hai-con-so-dua-tren-cai-cach-manh-me-the-che-nhu-the-nao-202651121174153.htm

In bài biết

Bản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/