Ngày 21/2/2025, Bộ Công Thương ban hành Quyết định 460/QĐ-BCT áp thuế chống bán phá giá tạm thời với HRC Trung Quốc ở mức 19,38% - 27,83%, hiệu lực từ 7/3/2025 trong 120 ngày.
Đến ngày 4/7/2025, bộ ban hành Quyết định 1959/QĐ-BCT áp thuế chính thức 23,1% - 27,83% tùy doanh nghiệp, hiệu lực từ 6/7/2025 và kéo dài 5 năm. Cùng quyết định này, cơ quan điều tra chấm dứt điều tra với HRC xuất xứ Ấn Độ do lượng nhập ở mức không đáng kể, thấp hơn ngưỡng tối thiểu 3% theo quy định.
Năm 2024, khi chưa có thuế, 12,6 triệu tấn HRC nhập khẩu áp đảo phần tiêu thụ hàng nội địa của Hòa Phát và Formosa Hà Tĩnh (khoảng 6,5 triệu tấn), chiếm 66% tổng lượng HRC đưa ra thị trường. Sau khi có thuế, lượng nhập giảm mạnh còn tiêu thụ hàng trong nước tăng lên khoảng 8,2 triệu tấn nhờ Dung Quất 2 vận hành phân kỳ 1 từ tháng 3/2025, đưa tỷ trọng nguồn nội địa từ 34% lên 48% và dự báo đạt khoảng 65% năm 2026.
Tuy nhiên, sau đó, Hòa Phát và Formosa Hà Tĩnh tiếp tục nộp hồ sơ cáo buộc các doanh nghiệp xuất khẩu Trung Quốc lẩn tránh thuế bằng cách chuyển sang bán HRC khổ rộng trên 1.880 mm - loại nằm ngoài phạm vi áp thuế ban đầu - và đề nghị mở rộng diện áp dụng. Hồ sơ được chấp nhận hợp lệ vào tháng 9/2025, điều tra chính thức khởi xướng ngày 27/10/2025. Đến ngày 3/4/2026, Bộ Công Thương áp thuế chống lẩn tránh tạm thời 27,83% với HRC khổ rộng xuất xứ Trung Quốc, hiệu lực từ 17/4/2026.
Sức ép cũng đến từ phía ngược lại. Ngày 30/7/2026, Bộ Công Thương khởi xướng cuộc rà soát giữa kỳ đầu tiên - không phải theo đề nghị của doanh nghiệp trong nước, mà theo yêu cầu của Baoshan Iron & Steel (Baosteel). Tập đoàn thép Trung Quốc lập luận rằng, các tình tiết làm cơ sở cho cuộc điều tra ban đầu đã thay đổi, và đề nghị xem xét lại mức thuế đang áp cho riêng hàng xuất khẩu của mình. Mức thuế 23,1% - 27,83% vẫn giữ nguyên trong suốt quá trình rà soát.
Một bên cần siết thêm, một bên muốn nới ra - hai hướng vận động song song này cho thấy hàng rào phòng vệ không phải một lằn ranh cố định, mà là cuộc rượt đuổi liên tục giữa quy định và cách thích ứng của doanh nghiệp giữa dòng chảy thương mại.
Dịch chuyển cơ cấu nguồn cung HRC tại Việt Nam trước và sau thuế AD20 (số liệu 2026 là dự báo). Nguồn: Lan Hương tổng hợp
Hàng rào với thép dẹt được dựng lên đồng loạt trên nhiều thị trường. Tại Mỹ, thuế theo Mục 232 (Đạo luật Mở rộng Thương mại 1962) với thép và nhôm nhập khẩu được nâng từ 25% lên 50% từ ngày 4/6/2025, chỉ áp dụng cho phần hàm lượng thép, nhôm có trong sản phẩm; riêng hàng từ Anh giữ mức 25%.
Tại Hàn Quốc, thuế chống bán phá giá 5 năm được áp với HRC Trung Quốc và Nhật Bản, song một số nhà sản xuất lớn như Baosteel hay Nippon Steel được miễn theo thỏa thuận giá nhập khẩu tối thiểu (bán thấp hơn mức sàn thì thuế được áp dụng).
Tại Liên minh châu Âu, với thép cán nóng, Ủy ban châu Âu áp thuế chính thức từ ngày 26/9/2025 với hàng từ Ai Cập, Nhật Bản và Việt Nam - trong đó Hòa Phát không thuộc diện áp thuế. Với thép cán nguội CRC, tháng 8/2026 Ủy ban châu Âu đề xuất thuế chính thức thuế 5,6% - 28% với hàng từ Ấn Độ, Nhật Bản, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.
Nhật Bản cũng áp thuế tạm thời với thép mạ kẽm nhúng nóng từ Hàn Quốc và Trung Quốc, còn Malaysia rà soát cuối kỳ thuế với thép cuộn từ Trung Quốc và Việt Nam.
Hai loại rào cản thuế quan đang áp dụng với thép dẹt. Nguồn: Lan Hương tổng hợp các văn bản pháp lý
Một câu hỏi được đặt ra rằng, nếu đã có thuế AD20 bảo hộ, vì sao năm 2026 các nhà sản xuất nội địa vẫn liên tiếp hạ giá? Hòa Phát giảm 34 USD/tấn cho kỳ giao tháng 8/2026, đưa giá HRC SAE1006/SS400 về 535 USD/tấn CFR TP HCM với đơn hàng từ 20.000 tấn; Formosa hạ 8 USD/tấn cho kỳ giao tháng 9, về 522 USD/tấn.
Hàng rào thuế chỉ chặn được hành vi bán phá giá, chứ không nâng được mặt bằng giá khi nhu cầu yếu. Ba yếu tố cùng tác động.
Thứ nhất, sức ép cạnh tranh chưa mất đi. Nửa đầu năm 2025, HRC SAE1006 Trung Quốc chào sang Việt Nam bình quân 481 USD/tấn CFR trong khi hàng cùng loại tại TP HCM ở mức 548 USD/tấn. Đến tháng 8/2026, khi hàng Trung Quốc vướng rào cản phòng vệ, thách thức lại chuyển sang Ấn Độ với chào giá khoảng 505 USD/tấn CFR TP HCM, thấp hơn cả giá của Formosa và không chịu thuế, do được chấm dứt điều tra trong vụ AD20.
Doanh nghiệp trong nước phải hạ giá HRC. Nguồn: Lan Hương tổng hợp BigMint
Thứ hai, nhu cầu nội địa yếu. Người mua chỉ đặt hàng cho nhu cầu cần thiết nên giá khó bật lên dù nguồn cung nhập khẩu đã giảm mạnh, cộng thêm lực cản thời tiết làm chậm tiến độ xây dựng, tồn kho còn cao, tâm lý vẫn còn chờ giá xuống thêm.
Thứ ba, khối thượng nguồn Trung Quốc vẫn thua lỗ. Ngành thép Trung Quốc không đi xuống theo một đường thẳng, mà đã hai lần khôi phục lợi nhuận rồi lại đánh mất. Tháng 8/2025, 65,4% trong số 247 nhà máy lò cao được khảo sát hoạt động có lãi. Bốn tháng sau, tỷ lệ này rơi xuống 36% vào đầu tháng 12/2025 - đúng thời điểm Bắc Kinh công bố chế độ giấy phép xuất khẩu áp dụng từ 1/1/2026. Sang năm 2026, biên lợi nhuận bật lên đỉnh 64,1% giữa tháng 5, rồi bị xóa sạch lần thứ hai - đến ngày 7/8/2026 chỉ còn 32% nhà máy có lãi, tức gần 68% đang lỗ - thấp hơn cả đáy tháng 12/2025.
Cả hai lần phục hồi đều không kéo dài lâu và mỗi lần lợi nhuận co lại, áp lực đẩy hàng ra nước ngoài lại tăng. Khi thông tin thị trường cho rằng nhiều nhà máy vận hành dưới điểm hòa vốn, giá bán không còn do kỳ vọng lợi nhuận quyết định mà do nhu cầu thu hồi vốn và chi phí lưu kho - nhà máy buộc phải bán để giữ dòng tiền, kể cả dưới giá thành. Điều này kéo theo mặt bằng giá khu vực cũng đi xuống.
Hai lần lợi nhuận được khôi phục rồi lại mất - ngành thép Trung Quốc kết thúc tuần đầu tháng 8/2026 với gần 68% nhà máy thua lỗ. Nguồn: Lan Hương tổng hợp SunSirs, Mysteel
Phân hóa mặt bằng giá giữa các vùng thị trường ngày càng rõ, tại Mỹ, nhờ thuế Mục 232 ở mức 50%, Nucor giữ giá chào HRC quanh 1.130 USD/tấn ngắn trong tháng 7/2026 - khoảng 1.245 USD/tấn mét, cao gấp hơn hai lần mặt bằng Đông Nam Á vốn chỉ quanh 500 - 550 USD/tấn; còn tại châu Âu, giá được hạn ngạch nâng đỡ nhưng Tây Âu và Nam Âu vẫn đi ngang và dao động quanh ngưỡng 620 – 670 EUR/tấn EXW (tương đương khoảng 670 – 720 USD/tấn) do tiêu thụ yếu và tồn kho lớn.
Thị trường HRC còn chịu tác động từ hai chính sách lớn khác của EU. Thứ nhất là hạn ngạch thuế quan mới (TRQ), thay cơ chế tự vệ truyền thống bằng hệ thống phân bổ theo từng quốc gia và giới hạn lượng chuyển tiếp giữa các quý. Tác động thấy rõ qua Thổ Nhĩ Kỳ, hạn ngạch chỉ còn khoảng 2,86 triệu tấn (chu kỳ 12 tháng (1/7/2025 – 30/6/2026), so với hơn 7 triệu tấn thực tế cung ứng vào châu Âu năm 2025.
Thứ hai là Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM). Từ ngày 1/1/2026, cơ chế này bước vào giai đoạn tuân thủ, chấm dứt thời kỳ chuyển tiếp 2023 - 2025 vốn chỉ yêu cầu khai báo. Nhà nhập khẩu đưa vào EU từ 50 tấn hàng thuộc diện CBAM mỗi năm trở lên phải kê khai phát thải và nộp chứng chỉ tương ứng, kỳ đầu tiên hạn đến ngày 30/9/2027.
Trong năm 2026, hệ số CBAM chỉ ở mức 2,5% cho năm đầu tiên, nghĩa là 97,5% hạn ngạch phát thải vẫn được phân bổ miễn phí. Chi phí chứng chỉ vì thế chỉ khoảng 3-5 EUR cho mỗi tấn thép - gần như chưa tác động tới giá. Nhưng lộ trình đã ấn định đủ 9 năm, với 22,5% năm 2029, mức 48,5% năm 2030 và 100% vào năm 2034 - gánh nặng thực sự dồn về nửa sau chặng đường.
Lộ trình hệ số CBAM với thép nhập khẩu vào EU - gánh nặng dồn về nửa sau chặng đường. Nguồn: Lan Hương tổng hợp từ Ủy ban châu Âu
Trong văn bản Ủy ban châu Âu công bố ngày 16/12/2025, có ba điểm đáng chú ý với doanh nghiệp Việt Nam. Một, đề xuất mở rộng phạm vi CBAM sang khoảng 180 sản phẩm hạ nguồn dùng nhiều thép và nhôm từ ngày 1/1/2028 - nhóm gồm nhiều mặt hàng chế biến sâu Việt Nam đang xuất khẩu. Hai là chế tài báo cáo phát thải thực tế, nếu doanh nghiệp không đo đạc con số thực tế, lượng CO2 giả định khi tính tiền sẽ bị EU cộng phạt thêm 10% vào năm 2026, 20% vào năm 2027 và 30% từ năm 2028. Ba là đề xuất siết kẽ hở phế liệu, cân nhắc đưa thép phế trước tiêu dùng vào phạm vi điều chỉnh.
Bước sang giai đoạn tới, ba vấn đề sau có thể tiếp tục tác động tới thị trường HRC toàn cầu.
Một là, phân hóa giá theo khu vực trở thành trạng thái ổn định. Mặt bằng giá tại khu vực có hàng rào cao sẽ tiếp tục tách rời giá tại thị trường mở chừng nào các biện pháp còn hiệu lực.
Hai là, thị phần nội địa được bảo vệ nhưng biên lợi nhuận chưa chắc cải thiện tương ứng, khi giá bán vẫn bị neo theo mặt bằng khu vực và các nguồn nhập không chịu thuế, trong khi nhu cầu không tăng mạnh.
Ba là, tiêu chuẩn carbon dần trở thành điều kiện tiếp cận thị trường. Chi phí CBAM năm 2026 còn khiêm tốn, nhưng lộ trình đến 2034 đã ấn định và phạm vi dự kiến mở rộng sang hàng hạ nguồn từ 2028. Xây dựng hệ thống kiểm kê phát thải vì thế không còn là chuyện tùy chọn.
Nhìn tổng thể, hàng rào phòng vệ có thể chặn được đáng kể dòng hàng giá rẻ và trả lại thị phần cho nhà sản xuất. Tuy nhiên, về mặt giá cả, các thị trường nội địa không thể đứng tách biệt khỏi vòng xoáy toàn cầu. Chừng nào khối sản xuất thượng nguồn trong khu vực (đặc biệt là các nhà máy Trung Quốc) còn thua lỗ và buộc phải xả hàng để giữ dòng tiền, mặt bằng giá HRC toàn cầu và Việt Nam vẫn sẽ chịu áp lực lớn.
Xem thêm:
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/ky-2-rao-can-phong-ve-va-cuc-dien-phan-hoa-moi-cua-thi-truong-hrc-202681323214553.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/