Giá tiêu nội địa gần như đi ngang trong suốt tuần qua, trước khi bất ngờ giảm 2.000 đồng/kg vào ngày cuối tuần, đưa mặt bằng giá xuống còn 136.000 – 139.000 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) giảm xuống còn 139.000 đồng/kg, tiếp đến là Đắk Lắk với 138.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại gồm Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) cùng ghi nhận mức giá 136.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 9/8 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với tuần trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
138.000 |
-2.000 |
-2.000 |
|
Gia Lai |
136.000 |
-2.000 |
-2.000 |
|
Đắk Nông |
139.000 |
-2.000 |
-2.000 |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
136.000 |
-2.000 |
-2.000 |
|
Bình Phước |
136.000 |
-2.000 |
-2.000 |
|
Đồng Nai |
136.000 |
-2.000 |
-2.000 |
Trái ngược với diễn biến trầm lắng của thị trường nội địa Việt Nam, giá hồ tiêu thế giới ghi nhận tín hiệu khởi sắc trong tuần qua.
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia tăng 62 USD/tấn so với tuần trước, lên 6.822 USD/tấn.
Đáng chú ý, giá tiêu đen Brazil ASTA 570 tăng tới 200 USD/tấn, được chào bán ở mức 5.900 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tiêu đen Malaysia tiếp tục ổn định trong suốt tuần qua ở mức 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu cũng gần như đi ngang, dao động 5.970 – 6.050 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 9/8 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.822 |
+0,92 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.900 |
+3,51 |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.970 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.050 |
- |
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng nhẹ 23 USD/tấn so với tuần trước, lên 9.340 USD/tấn.
Tương tự, giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam cũng tăng 50 USD/tấn, đạt 8.400 USD/tấn.
Tại Malaysia, giá tiêu trắng xuất khẩu tiếp tục duy trì ổn định ở mức 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 9/8 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.340 |
+0,25 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.400 |
+0,60 |
Theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 168.429 tấn Hồ tiêu, kim ngạch đạt 1,087 tỷ USD, tăng 16,1% về lượng và 10,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025 (145.046 tấn). Trong đó, khối hội viên VPSA xuất khẩu 137.640 tấn, tăng 10,3%, chiếm 81,7% tổng lượng xuất khẩu; trong khi khối doanh nghiệp ngoài VPSA đạt 30.789 tấn, tăng mạnh 52,3%, nâng thị phần lên 18,3%.
VPSA nhận định, trong ngắn hạn, giá hồ tiêu được dự báo tiếp tục ổn định nếu tình hình địa chính trị thế giới không có nhiều biến động. Trong trường hợp căng thẳng tại Trung Đông được giải quyết, giá hồ tiêu có thể tăng trở lại do lượng tồn kho tại các thị trường nhập khẩu đã xuống mức thấp, trong khi nguồn cung từ các quốc gia sản xuất lớn đang ở mức thấp nhất trong nhiều năm.
Tuy nhiên, triển vọng xuất khẩu sang Hoa Kỳ cũng đối mặt với những thách thức mới khi nước này áp dụng mức thuế nhập khẩu 12,5% đối với hàng hóa của Việt Nam. Chính sách này có thể khiến chi phí nhập khẩu tăng lên, buộc các doanh nghiệp nhập khẩu thận trọng hơn trong việc ký kết hợp đồng và đàm phán giá.
Dù vậy, VPSA nhận định tác động đối với ngành hồ tiêu sẽ không quá lớn nếu các quốc gia cạnh tranh cũng chịu mức thuế tương tự. Trong bối cảnh Hoa Kỳ vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung hồ tiêu nhập khẩu và Việt Nam đang là nhà cung cấp lớn nhất cho thị trường này, xuất khẩu hồ tiêu sang Hoa Kỳ vẫn được kỳ vọng duy trì ổn định trong trung và dài hạn.
Theo VPSA, sau hơn 20 năm giữ vị trí quốc gia xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới, ngành hồ tiêu Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, khi dư địa mở rộng diện tích canh tác gần như không còn.
VPSA cho biết, quỹ đất sản xuất ngày càng hạn chế, cạnh tranh với nhiều loại cây trồng khác, trong khi các quy định mới của thị trường nhập khẩu, đặc biệt là Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động sản xuất.
Điều đó đồng nghĩa ngành hồ tiêu không thể tiếp tục phát triển dựa vào tăng sản lượng hay cạnh tranh bằng giá thấp mà phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng, thương hiệu và giá trị gia tăng.
Để duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số trong năm 2026, VPSA cho rằng doanh nghiệp cần đầu tư mạnh hơn vào vùng nguyên liệu đạt chuẩn, tăng cường liên kết với nông dân, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường nhập khẩu.
Song song với đó, doanh nghiệp cần chủ động thích ứng với xu hướng tiêu dùng xanh thông qua phát triển nông nghiệp tái sinh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải carbon và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-98-giam-manh-cuoi-tuan-mat-moc-140000-dongkg-202689122111970.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/