Khảo sát trong sáng nay cho thấy, giá tiêu tại các vùng trồng trọng điểm đồng loạt tăng thêm 1.000 đồng/kg so với hôm qua, đưa mặt bằng giá lên dao động từ 134.000 – 136.000 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) ghi nhận mức giá cao nhất, đạt 136.000 đồng/kg. Tiếp đến là Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) với 135.000 đồng/kg. Riêng Đồng Nai tăng lên 134.000 đồng/kg, song vẫn là địa phương có mức giá thấp nhất trong các vùng khảo sát.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 8/7 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
136.000 |
+1.000 |
|
Gia Lai |
135.000 |
+1.000 |
|
Đắk Nông |
136.000 |
+1.000 |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
135.000 |
+1.000 |
|
Bình Phước |
134.000 |
+1.000 |
|
Đồng Nai |
134.000 |
+1.000 |
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá hồ tiêu trên thị trường thế giới tiếp tục đi ngang, chưa xuất hiện biến động đáng kể. Trong đó, tiêu đen Indonesia được giao dịch ở mức 7.121 USD/tấn, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giữ ổn định ở 5.900 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia được chào bán với giá 9.350 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục ổn định ở mức 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 8/7 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
7.121 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.900 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.350 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.200 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia duy trì ở mức 9.253 USD/tấn. Tại Malaysia và Việt Nam, tiêu trắng lần lượt được báo giá ở mức 12.250 USD/tấn và 9.000 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 8/7 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.253 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.250 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.000 |
- |
Theo ITC, trong 4 tháng đầu năm 2026, hoạt động thương mại hồ tiêu của Ấn Độ tiếp tục suy giảm ở cả chiều xuất khẩu và nhập khẩu, phản ánh nguồn cung trong nước hạn chế, giá hồ tiêu duy trì ở mức cao và nhu cầu giao dịch trên thị trường quốc tế chậm lại.
Ở chiều nhập khẩu, trong 4 tháng đầu năm 2026, Ấn Độ nhập khẩu 7.549 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 52,6 triệu USD, giảm tới 47,4% về lượng và 46,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Sri Lanka tiếp tục là nguồn cung lớn nhất với 2.745 tấn, giảm 52,7% và chiếm 36,4% tổng lượng nhập khẩu.
Việt Nam đứng thứ hai với 2.652 tấn, giảm 22,9%, nhưng tỷ trọng trong tổng nhập khẩu tăng lên 35,1%, cho thấy hồ tiêu Việt Nam vẫn giữ vai trò quan trọng trong nguồn cung của thị trường Ấn Độ.
Nhập khẩu từ Indonesia giảm 47,3%, còn 1.168 tấn, trong khi Brazil ghi nhận mức giảm mạnh nhất, tới 73,3%, chỉ còn 562 tấn.
Về xuất khẩu, Ấn Độ xuất khẩu 6.391 tấn trong 4 tháng đầu năm, kim ngạch thu về 45,1 triệu USD, giảm 8,9% về lượng và 5,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Trong đó, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hồ tiêu Ấn Độ với 2.391 tấn, chiếm 37,4% tổng lượng xuất khẩu, tuy nhiên giảm 17,1% so với cùng kỳ năm trước.
Nga đứng thứ hai với 466 tấn, giảm 13,4%, trong khi Canada cũng giảm mạnh 26,4%, còn 399 tấn. Ngược lại, xuất khẩu sang Vương quốc Anh tăng 16,6%, đạt 422 tấn, cho thấy nhu cầu tại thị trường này vẫn duy trì tích cực. Thị trường Thụy Điển gần như đi ngang khi chỉ giảm 2,3%, đạt 298 tấn.
Nhìn chung, mặc dù xuất khẩu sang một số thị trường châu Âu có dấu hiệu cải thiện, sự sụt giảm tại các thị trường chủ lực như Mỹ, Nga và Canada đã khiến tổng lượng xuất khẩu của Ấn Độ giảm trong 4 tháng đầu năm.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-87-tang-dong-loat-1000-dongkg-tai-cac-dia-phuong-san-xuat-trong-diem-20267873747831.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/