Khảo sát cho thấy, giá tiêu sáng nay tại các địa phương sản xuất trọng điểm tiếp tục duy trì ổn định trong khoảng 140.000 - 144.000 đồng/kg.
Trong đó, giá tiêu tại Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) đang được thu mua ở mức cao nhất là 144.000 đồng/kg. Theo sau là Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) với 142.500 đồng/kg, Đồng Nai ở mức 142.000 đồng/kg, trong khi Gia Lai ghi nhận ở mức 140.000 đồng/kg – thấp nhất trong khu vực.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 7/5 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
144.000 |
- |
|
Gia Lai |
140.000 |
- |
|
Đắk Nông |
144.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
142.500 |
- |
|
Bình Phước |
142.000 |
- |
|
Đồng Nai |
142.000 |
- |
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia đảo chiều tăng nhẹ 0,12% (tương ứng 8 USD/tấn) so với ngày trước đó, được giao dịch ở mức 6.955 USD/tấn.
Giá tiêu tại các quốc gia sản xuất hàng đầu khác tiếp tục đi ngang. Hiện tiêu đen Brazil loại ASTA 570 được giao dịch ở mức 6.100 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia có giá 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu cũng giữ nguyên ở mức 6.100–6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 7/5 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.955 |
+0,12 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.200 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 0,12% (11 USD/tấn) so với ngày hôm trước, lên mức 9.164 USD/tấn.
Tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng vẫn duy trì ổn định ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 7/5 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.164 |
+0,12 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.000 |
- |
Theo thống kê sơ bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong tháng 4/2026 Việt Nam xuất khẩu 31.053 tấn hồ tiêu các loại, kim ngạch đạt 193,1 triệu USD, tiêu đen đạt 27.408 tấn, tiêu trắng đạt 3.645 tấn. So với cùng kỳ tháng 4/2025, lượng xuất khẩu tăng 16,8% và so với tháng 3/2026 lượng xuất khẩu tăng 1,4% tuy nhiên kim ngạch giảm 3,1%.
Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam với khối lượng đạt 7.272 tấn, giảm 9,8% so với tháng 3/2026 nhưng vẫn chiếm tới 23,4% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam trong tháng.
Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam với 4.561 tấn, tăng 24,5% so với tháng trước.
UAE đạt 1.735 tấn, tăng 54,1%; Ấn Độ đạt 1.427 tấn, tăng 54,1%; Ai Cập đạt 1.244 tấn, giảm 4,2%; Thái Lan đạt 1.227 tấn, tăng 4,0%; Thổ Nhĩ Kỳ đạt 1.097 tấn, tăng mạnh 165,0% trong khi xuất khẩu sang Hà Lan đạt 918 tấn, giảm 14,7% và Đức đạt 850 tấn, giảm 18,7%.
Các doanh nghiệp xuất khẩu lớn nhất trong tháng gồm: Olam Việt Nam đạt 3.063 tấn, tăng 0,7% so với tháng trước; Tiếp theo là Phúc Sinh đạt 2.010 tấn, giảm 32,8%; Haprosimex JSC đạt 1.875 tấn, tăng 4,5%; Pearl Group đạt 1.731 tấn, giảm 6,5% và Nedspice Việt Nam đạt 1.692 tấn, giảm 2,0%. Đáng chú ý, Intimex Group đạt 1.181 tấn, tăng mạnh 130,2% so với tháng trước.
Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 97.403 tấn hồ tiêu các loại, kim ngạch đạt 623,0 triệu USD, tăng 31,2% về lượng và 22,0% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khối doanh nghiệp thành viên VPSA xuất khẩu 77.414 tấn, chiếm 79,5% tổng lượng xuất khẩu của cả nước.
Châu Mỹ tiếp tục là khu vực xuất khẩu lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam trong 4 tháng đầu năm, với khối lượng đạt 26.439 tấn, tăng mạnh 43,4% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 27,1% tổng lượng xuất khẩu. Riêng Mỹ đạt 24.131 tấn, tăng 44,6%, tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam.
Châu Á là khu vực xuất khẩu lớn thứ hai với 45.555 tấn, tăng 37,5% so với cùng kỳ và chiếm tới 46,8%. Trung Quốc là thị trường tăng trưởng nổi bật nhất với 13.124 tấn, tăng mạnh 289,3%. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang Thái Lan đạt 4.363 tấn, tăng 143,6%; Philippines đạt 3.134 tấn, tăng 46,2%; Hong Kong đạt 2.848 tấn, tăng 28,2%. Trong khi đó, xuất khẩu sang Ấn Độ giảm 34,6%, còn 3.883 tấn.
Xuất khẩu sang châu Âu đạt 19.153 tấn, tăng nhẹ 3,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, Hà Lan đạt 2.882 tấn, tăng mạnh 54,4%; Nga đạt 1.996 tấn, tăng 21,3%. Ngược lại, xuất khẩu sang Đức chỉ đạt 3.272 tấn, giảm 33,6%.
Xuất khẩu sang châu Phi đạt 6.256 tấn, tăng 50,5% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó Ai Cập đạt 3.177 tấn, tăng mạnh 116,1%.
Về doanh nghiệp, Olam Việt Nam vươn lên dẫn đầu xuất khẩu tiêu của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm với 8.228 tấn, tăng 7,0% so với cùng kỳ năm ngoái. Tiếp theo là các doanh nghiệp: Phúc Sinh đạt 7.892 tấn, tăng 11,4%; Nedspice Việt Nam đạt 6.503 tấn, giảm nhẹ 2,0%; Haprosimex JSC đạt 6.409 tấn, tăng mạnh 61,2%; Simexco Đắk Lắk đạt 5.706 tấn, tăng 58,8%. Đáng chú ý, khối doanh nghiệp ngoài VPSA xuất khẩu 19.989 tấn, tăng tới 133,4% so với cùng kỳ năm trước.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-75-nhu-cau-tang-cao-viet-nam-xuat-khau-gan-100000-tan-ho-tieu-trong-4-thang-dau-nam-20265772217694.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/