Theo khảo sát, giá tiêu hôm nay tại các địa phương sản xuất trọng điểm đồng loạt tăng 500 đồng/kg so với ngày hôm trước, đưa mặt bằng giá thu mua lên mức 134.500 – 137.000 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Lắk tăng lên 137.000 đồng/kg, tiếp tục là địa phương dẫn đầu giá thu mua. Đứng tiếp theo là Đắk Nông (Lâm Đồng) với 136.000 đồng/kg và Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) ở mức 135.000 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và Bình Phước (Đồng Nai) cùng ghi nhận mức giá 134.500 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 7/11 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
137.000 |
+500 |
|
Gia Lai |
134.500 |
+500 |
|
Đắk Nông |
136.000 |
+500 |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
135.000 |
+500 |
|
Bình Phước |
134.500 |
+500 |
|
Đồng Nai |
134.500 |
+500 |
Theo cập nhật của Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC), thị trường hồ tiêu thế giới tiếp tục duy trì trạng thái ổn định khi giá tại các nước sản xuất chủ chốt không có sự điều chỉnh so với phiên trước.
Hiện giá tiêu đen Indonesia đang được giao dịch ở mức 6.799 USD/tấn. Tại Brazil, giá tiêu đen ASTA 570 đứng ở mức 5.700 USD/tấn, thấp nhất trong số các thị trường được khảo sát. Ngược lại, Malaysia vẫn là quốc gia có giá cao nhất, với 9.100 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá chào xuất khẩu tiêu đen loại 500 g/l hiện ở mức 5.950 USD/tấn, còn loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 7/11 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.799 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.700 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.950 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.995 |
- |
Trên thị trường tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok Indonesia duy trì ổn định ở mức 9.285 USD/tấn. Tại Malaysia và Việt Nam, tiêu trắng tiếp tục được chào bán với giá 12.000 USD/tấn và 8.450 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 7/11 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.285 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.000 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.450 |
- |
Theo thống kê của Comexstat, trong tháng 10, Brazil xuất khẩu 6.562 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch 39,2 triệu USD, tăng 44,9% về lượng và 41,0% về giá trị so với tháng 9/2026. So với tháng 10/2025, lượng xuất khẩu tăng 5,7% nhưng kim ngạch chỉ tăng 0,8%. Giá xuất khẩu bình quân đạt 5.974 USD/tấn, giảm 2,7% so với tháng trước và giảm 4,6% so với cùng kỳ.
Pakistan là thị trường xuất khẩu lớn nhất trong tháng 10 đạt 918 tấn, chiếm 14,0%, tăng 126,7% so với tháng trước và tăng 35,6% so với cùng kỳ.
Việt Nam đứng thứ hai với 782 tấn, đạt 4,8 triệu USD, chiếm 11,9%; lượng nhập khẩu tăng 132,0% so với tháng trước và tăng 2,0% so với cùng kỳ.
Senegal đứng thứ ba với 761 tấn, chiếm 11,6%, tăng lần lượt 47,8% và 116,8%. Xuất khẩu sang Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ cũng tăng mạnh so với cùng kỳ, lần lượt đạt 540 tấn và 401 tấn, tăng 395,4% và 109,9%.
Ngược lại, xuất khẩu sang UAE, Đức và Ấn Độ giảm lần lượt 80,7%, 80,8% và 60,4%. Diễn biến này cho thấy sự phục hồi trong tháng tập trung tại một số thị trường châu Á, châu Phi và Trung Đông.
Lũy kế 10 tháng năm 2026, Brazil xuất khẩu 72.364 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 446,4 triệu USD, tăng 3,1% về lượng và 2,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt 6.169 USD/tấn, giảm 0,6%. So với cùng kỳ năm 2024, lượng xuất khẩu tăng 36,6%, trong khi kim ngạch tăng 94,4%, cho thấy mặt bằng giá vẫn cao hơn đáng kể so với hai năm trước.
Việt Nam tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Brazil đạt 16.637 tấn, kim ngạch 101,1 triệu USD, chiếm 23,0% tổng lượng xuất khẩu. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2025, xuất khẩu sang Việt Nam giảm 17,3% về lượng và 12,1% về giá trị.
Senegal và Pakistan lần lượt đứng thứ hai và thứ ba, đạt 7.905 tấn và 7.391 tấn, tăng 51,5% và 88,4%; tỷ trọng tương ứng đạt 10,9% và 10,2%.
Ai Cập là một trong những thị trường đóng góp nổi bật vào tăng trưởng đạt 6.023 tấn, tăng 101,8%, chiếm 8,3%.
Xuất khẩu sang Mỹ đạt 2.518 tấn, tăng 113,6%; Thổ Nhĩ Kỳ đạt 2.452 tấn, tăng 73,7%; Hà Lan đạt 2.397 tấn, tăng 56,3%. Ngược lại, ngoài Việt Nam lượng xuất khẩu sang UAE giảm 59,1%, Đức giảm 40,6%, Ấn Độ giảm 33,3% và Morocco giảm 12,8%.
Bang Espírito Santo đứng đầu xuất khẩu 10 tháng đạt 52.708 tấn, tăng 9,4% so với cùng kỳ và chiếm 72,8% tổng lượng xuất khẩu. Tiếp theo là bang Pará đạt 11.896 tấn, giảm 3,7%, chiếm 16,4% thị phần và bang Bahia xuất khẩu đạt 7.565 tấn, giảm 20,6% so với cùng kỳ, 10,5% thị phần.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-711-dong-loat-tang-500-dongkg-202611793816476.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/