Theo khảo sát, giá tiêu hôm nay tại các địa phương sản xuất trọng điểm vẫn duy trì ổn định quanh mốc 133.000 – 135.000 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) vẫn là hai địa phương ghi nhận mức giá thu mua cao nhất, đạt 135.000 đồng/kg. Theo sau là Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) với 134.000 đồng/kg. Trong khi đó, Đồng Nai có giá thu mua ở mức 133.000 đồng/kg, thấp nhất trên thị trường.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 6/7 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
135.000 |
- |
|
Gia Lai |
134.000 |
- |
|
Đắk Nông |
135.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
134.000 |
- |
|
Bình Phước |
133.000 |
- |
|
Đồng Nai |
133.000 |
- |
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia tiếp tục được niêm yết ở mức 7.121 USD/tấn, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 có giá 5.900 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia đạt 9.350 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục đi ngang trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 6/7 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
7.121 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.900 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.350 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.200 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia duy trì ở mức 9.253 USD/tấn. Tại Malaysia và Việt Nam, tiêu trắng lần lượt được báo giá ở mức 12.250 USD/tấn và 9.000 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 6/7 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.253 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.250 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.000 |
- |
Theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong tháng 6/2026, Việt Nam xuất khẩu 23.103 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 151,3 triệu USD, giảm 8,2% về lượng và 8,9% về giá trị so với tháng 5/2026 và giảm nhẹ 1,4% về lượng so với cùng kỳ tháng 6/2025. Sự sụt giảm chủ yếu đến từ việc lượng xuất khẩu sang các thị trường châu Á, châu Phi và châu Mỹ giảm so với tháng trước, trong khi nhu cầu từ châu Âu vẫn duy trì tương đối ổn định.
Châu Á tiếp tục là khu vực tiêu thụ lớn nhất với 9.886 tấn, chiếm 43,7% tổng lượng xuất khẩu, tuy giảm 10,2% so với tháng 5 và giảm 18,3% so với cùng kỳ năm trước.
Ngược lại, xuất khẩu sang châu Mỹ đạt 6.174 tấn, giảm 8,2% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 30,0% so với cùng kỳ, trong đó riêng Mỹ đạt 5.373 tấn, tăng 21,0% so với tháng 6/2025.
Châu Âu đạt 5.753 tấn, giảm 4,5% so với tháng trước nhưng tăng 16,7% so với cùng kỳ, với nhu cầu tích cực từ Đức và Hà Lan.
Trong khi đó, xuất khẩu sang châu Phi đạt 1.290 tấn, giảm 8,9% so với tháng trước và giảm 22,4% so với cùng kỳ năm trước.
Về doanh nghiệp, khối hội viên VPSA xuất khẩu 20.484 tấn, chiếm 82,0% tổng lượng xuất khẩu, giảm 0,7% so với tháng trước nhưng tăng 10,5% so với cùng kỳ. Ngược lại, nhóm ngoài VPSA chỉ đạt 2.619 tấn, giảm mạnh 42,3% so với tháng 5 và giảm 46,6% so với cùng kỳ năm trước.
Trong nhóm doanh nghiệp xuất khẩu lớn, Phúc Sinh đứng đầu đạt 2.259 tấn, tiếp theo là Olam Việt Nam đạt 2.190 tấn và Haprosimex JSC đạt 1.982 tấn, lượng xuất khẩu 3 doanh nghiệp này đều ghi nhận mức tăng so với cùng kỳ năm trước, trong khi Nedspice Việt Nam giảm nhẹ và Pearl Group giảm đáng kể so với tháng trước.
Nhìn chung, xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam trong tháng 6 có dấu hiệu chững lại sau tháng 5, song nhu cầu từ các thị trường chủ lực như Mỹ, châu Âu và UAE vẫn là động lực hỗ trợ hoạt động xuất khẩu.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 145.686 tấn hồ tiêu, tiêu đen đạt 125.258 tấn, tiêu trắng đạt 20.428 tấn, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 940,5 triệu USD, tăng 17,4% về lượng và 10,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Mặc dù sản lượng trong nước tiếp tục suy giảm, hoạt động xuất khẩu vẫn duy trì tăng trưởng nhờ nguồn nguyên liệu bổ sung từ nhập khẩu và nhu cầu ổn định tại nhiều thị trường chủ lực. Tuy nhiên, tốc độ xuất khẩu có xu hướng chậm lại trong các tháng gần đây khi nguồn cung trong nước ngày càng hạn chế.
Về thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm với khối lượng đạt 66.456 tấn, chiếm 45,6% tổng lượng xuất khẩu và tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong khu vực này, Trung Quốc nhập khẩu 15.244 tấn, tăng mạnh 64,0%; UAE đạt 9.703 tấn, tăng 10,9%, tiếp tục là trung tâm trung chuyển quan trọng của hồ tiêu Việt Nam; Ấn Độ đạt 6.433 tấn, giảm 27,2%, trong khi Thái Lan tăng gần gấp đôi, đạt 6.094 tấn, tăng 95,9%.
Châu Mỹ đạt 39.339 tấn, tăng 31,1%, chiếm 27,0%, trong đó Mỹ tiếp tục là thị trường đơn lẻ lớn nhất với 35.362 tấn, tăng 28,7% so với cùng kỳ. Châu Âu đạt 30.929 tấn, tăng 7,1%, chiếm 21,2%, với Hà Lan tăng mạnh 53,5% lên 4.956 tấn, trong khi Đức giảm 24,0%, còn 5.502 tấn.
Bên cạnh đó, xuất khẩu sang châu Phi đạt 8.962 tấn, tăng 18,7%, trong đó Ai Cập đạt 4.554 tấn, tăng 43,1% so với cùng kỳ năm trước.
Khối hội viên VPSA xuất khẩu 118.636 tấn, tăng 11,4% và chiếm 81,4% tổng lượng xuất khẩu, trong khi nhóm ngoài VPSA đạt 27.050 tấn, tăng mạnh 53,4%, chiếm 18,6%. Olam Việt Nam tiếp tục là doanh nghiệp xuất khẩu lớn nhất với 12.451 tấn, tăng nhẹ 0,5% so với cùng kỳ; tiếp theo là Phúc Sinh với 12.022 tấn (tăng 11,0%), Nedspice Việt Nam với 10.261 tấn (giảm 3,2%), Haprosimex JSC với 9.688 tấn (tăng 50,0%), Pearl Group với 7.992 tấn (tăng 20,7%) và Simexco Đắk Lắk với 7.530 tấn (tăng 17,5%).
Nhìn chung, xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam trong nửa đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, nhờ nhu cầu tích cực từ các thị trường chủ lực và năng lực cung ứng ổn định của các doanh nghiệp xuất khẩu lớn, dù áp lực về nguồn cung nguyên liệu trong nước ngày càng rõ nét.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-67-xuat-khau-ho-tieu-giam-toc-trong-thang-6-kim-ngach-nua-dau-nam-van-vuot-940-trieu-usd-202675225737210.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/