Theo ghi nhận sáng nay, thị trường hồ tiêu tại các vùng sản xuất trọng điểm không ghi nhận biến động mới, với giá thu mua dao động từ 136.500–140.500 đồng/kg.
Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu về giá, ở mức 140.500 đồng/kg. Đứng thứ hai là Đắk Lắk với 138.500 đồng/kg. Trong khi đó, giá tiêu tại Bà Rịa – Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) được giao dịch quanh mức 137.000 đồng/kg; Gia Lai và Đồng Nai cùng ở mức 136.500 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 6/10 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
138.500 |
- |
|
Gia Lai |
136.500 |
- |
|
Đắk Nông |
140.500 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
137.000 |
- |
|
Bình Phước |
136.500 |
- |
|
Đồng Nai |
136.500 |
- |
Mặt bằng giá hồ tiêu xuất khẩu trên thế giới hiện chưa có sự thay đổi đáng kể. Theo IPC, tiêu đen của Malaysia đang đứng ở mức cao nhất trong nhóm được khảo sát, đạt 9.200 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu đen Indonesia ở mức 6.828 USD/tấn và tiêu đen ASTA 570 của Brazil đạt 5.800 USD/tấn.
Tại Việt Nam, tiêu đen loại 550 g/l được chào bán ở mức 6.075 USD/tấn, cao hơn loại 500 g/l khoảng 105 USD/tấn, tương ứng lần lượt là 5.970 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 6/10 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.828 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.800 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.200 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.970 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.075 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, tiêu trắng Muntok Indonesia được chào bán ở mức 9.348 USD/tấn. Trong khi đó, tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng lần lượt được giao dịch ở mức 8.450 USD/tấn và 12.100 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 6/10 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.348 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.100 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.450 |
- |
Theo thống kê sơ bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong tháng 9/2026, Việt Nam xuất khẩu được 25.580 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 164,9 triệu USD, tăng 17,7% về lượng và 17,0% về giá trị so với tháng 8/2026 và tăng 24,9% về lượng so với tháng 9/2025, tương ứng tăng 3.856 tấn và 5.093 tấn.
Tăng trưởng chủ yếu đến từ sự gia tăng xuất khẩu sang Hoa Kỳ và Trung Quốc, trong khi thị trường châu Âu tiếp tục giảm.
Riêng Hoa Kỳ và Trung Quốc đạt tổng cộng 10.681 tấn, chiếm 41,8% tổng lượng xuất khẩu. Hai thị trường này đóng góp 3.659 tấn vào mức tăng so với tháng trước, tương đương khoảng 94,9% mức tăng xuất khẩu chung.
Các doanh nghiệp thành viên VPSA xuất khẩu 20.231 tấn, chiếm 79,1%, tăng 14,4% so với tháng trước và 13,5% so với cùng kỳ. Nhóm doanh nghiệp ngoài VPSA đạt 5.349 tấn, chiếm 20,9%, tăng lần lượt 32,2% và 100,6%, cho thấy tốc độ tăng trưởng cao hơn nhóm thành viên.
Phúc Sinh dẫn đầu với 2.467 tấn, chiếm 9,6%, tăng 57,6% so với tháng trước và 43,3% so với cùng kỳ. Tiếp theo là Olam Việt Nam đạt 2.328 tấn, tăng lần lượt 25,8% và 19,9%; Nedspice Việt Nam đạt 2.082 tấn, tăng 19,2% và 27,2%. Haprosimex JSC đạt 1.346 tấn, tăng 17,2% so với tháng trước nhưng giảm 2,0% so với cùng kỳ; Pearl Group đạt 1.119 tấn, tăng 28,5% và 24,3%; DK Commodity đạt 940 tấn, tăng mạnh 66,7% và 57,2%.
Lũy tiến từ 01/01 đến 30/9/2026, Việt Nam xuất khẩu 215.733 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 1,4 tỷ USD, tăng 15,4% về lượng và 10,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025, tương ứng tăng 28.736 tấn và so với cùng kỳ năm 2024, lượng xuất khẩu tăng 7,4%.
Kết quả này cho thấy xuất khẩu hồ tiêu phục hồi rõ về lượng, với động lực chủ yếu đến từ các thị trường Hoa Kỳ, Trung Quốc, Thái Lan và Hà Lan.
Về diễn biến theo tháng, xuất khẩu đạt mức cao trong tháng 3 và tháng 4, lần lượt là 30.638 tấn và 31.053 tấn, sau đó giảm dần xuống 21.724 tấn trong tháng 8. Sang tháng 9, lượng xuất khẩu tăng trở lại, đạt 25.580 tấn, tăng 17,7% so với tháng trước. Tính chung quý III, Việt Nam xuất khẩu 70.047 tấn, giảm 11,7% so với quý II.
Về thị trường xuất khẩu trong 9 tháng đầu năm 2026, châu Á tiếp tục giữ vị trí lớn nhất với 102.032 tấn, chiếm 47,3% tổng lượng xuất khẩu, tăng 15,6% so với cùng kỳ. Trung Quốc đạt 24.904 tấn, tăng mạnh 62,2%, chiếm 11,5% và là thị trường lớn thứ hai của hồ tiêu Việt Nam. Thái Lan đạt 8.662 tấn, tăng 60,9%. Ngược lại, xuất khẩu sang UAE đạt 14.779 tấn, giảm nhẹ 0,5%; Ấn Độ đạt 8.415 tấn, giảm 23,1%. Như vậy, tăng trưởng tại châu Á chủ yếu được thúc đẩy bởi Trung Quốc và Thái Lan, trong khi Ấn Độ giảm đáng kể.
Châu Mỹ đạt 56.628 tấn, chiếm 26,2%, tăng 28,1% so với cùng kỳ, là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất với 50.621 tấn, tăng 26,6% và chiếm 23,5% tổng lượng xuất khẩu. Canada đạt 3.523 tấn, tăng 57,3%. Riêng Hoa Kỳ và Trung Quốc đạt tổng cộng 75.525 tấn, chiếm 35,0% tổng lượng xuất khẩu; mức tăng của hai thị trường này đóng góp khoảng 70,3% vào mức tăng xuất khẩu chung so với cùng kỳ.
Xuất khẩu sang châu Âu đạt 44.961 tấn, chiếm 20,8%, tăng 5,3%, nhưng có sự phân hóa giữa các thị trường. Hà Lan đạt 7.793 tấn, tăng 33,5%; Thổ Nhĩ Kỳ đạt 5.609 tấn, tăng 45,2%. Trong khi đó, Đức đạt 7.807 tấn, giảm 19,0%; Nga đạt 4.459 tấn, giảm 10,9%. Mặc dù lũy kế vẫn tăng, lượng xuất khẩu sang châu Âu giảm liên tục từ 6.023 tấn trong tháng 5 xuống 4.069 tấn trong tháng 9, cho thấy tốc độ giao hàng sang khu vực này chậm lại trong những tháng gần đây.
Châu Phi đạt 12.112 tấn, chiếm 5,6%, tăng nhẹ 2,4% so với cùng kỳ. Trong đó, Ai Cập đạt 5.816 tấn, tăng 12,9%, chiếm gần một nửa lượng hồ tiêu Việt Nam xuất khẩu sang khu vực này.
Về doanh nghiệp, nhóm thành viên VPSA xuất khẩu 175.549 tấn trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng 9,0%, chiếm 81,4% tổng lượng xuất khẩu. Nhóm doanh nghiệp ngoài VPSA đạt 40.184 tấn, tăng mạnh 55,0%, chiếm 18,6%, so với mức 13,9% của cùng kỳ năm 2025. Hai nhóm đóng góp gần tương đương vào mức tăng xuất khẩu chung: nhóm thành viên tăng 14.481 tấn, còn nhóm ngoài VPSA tăng 14.255 tấn.
Olam Việt Nam dẫn đầu với 18.649 tấn, tăng 1,1%, chiếm 8,6%; tiếp theo là Phúc Sinh đạt 18.298 tấn, tăng 17,3%, chiếm 8,5%; Nedspice Việt Nam đạt 15.927 tấn, giảm nhẹ 0,3%, chiếm 7,4%. Haprosimex JSC đạt 13.931 tấn, tăng 37,0%; Pearl Group đạt 11.069 tấn, tăng 21,5%. Năm doanh nghiệp này chiếm khoảng 36,1% tổng lượng xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam.
VPSA nhận định, nhìn chung, xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 tăng trưởng khá, song mức tăng tập trung lớn vào Hoa Kỳ và Trung Quốc. Sự mở rộng tại Thái Lan, Hà Lan và Thổ Nhĩ Kỳ góp phần bổ sung động lực tăng trưởng, trong khi xuất khẩu sang Đức và Ấn Độ suy giảm. Lượng xuất khẩu phục hồi trong tháng 9 là tín hiệu tích cực, nhưng kết quả quý III thấp hơn quý II và xu hướng giảm gần đây tại châu Âu vẫn cần được theo dõi.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-610-nhu-cau-tang-xuat-khau-ho-tieu-can-moc-14-ty-usd-sau-9-thang-dau-nam-202610665152109.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/