Thị trường hồ tiêu trong nước tuần qua ghi nhận diễn biến tích cực khi giá thu mua tại các vùng sản xuất chủ lực đồng loạt tăng 500 đồng/kg, lên khoảng 136.500–140.500 đồng/kg.
Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất, đạt 140.500 đồng/kg, theo sau là Đắk Lắk với 138.500 đồng/kg. Tại Bà Rịa – Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu đạt 137.000 đồng/kg, còn Gia Lai và Đồng Nai cùng ở mức 136.500 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 4/10 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với tuần trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
138.500 |
+500 |
|
Gia Lai |
136.500 |
+500 |
|
Đắk Nông |
140.500 |
+500 |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
137.000 |
+500 |
|
Bình Phước |
136.500 |
+500 |
|
Đồng Nai |
136.500 |
+500 |
Trên thị trường thế giới, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) giá tiêu đen của Brazil và Malaysia cùng điều chỉnh giảm 50 USD/tấn trong tuần qua, xuống còn 5.800 USD/tấn và 9.200 USD/tấn.
Trong khi đó, tiêu đen Indonesia ổn định trong cả tuần qua ở mức 6.828 USD/tấn.
Tương tự, tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l cũng đi ngang ở mức 5.970 USD/tấn, còn loại 550 g/l được chào bán ở mức 6.075 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 4/10 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.828 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.800 |
-0,85 |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.200 |
-0,54 |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.970 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.075 |
- |
Tương tự tiêu đen, giá tiêu trắng Malaysia giảm 50 USD/tấn trong tuần qua, xuống còn 12.100 USD/tấn.
Tại Indonesia và Việt Nam, giá tiêu trắng duy trì ổn định ở mức 9.348 USD/tấn và 8.450 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 4/10 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.348 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.100 |
-0,41 |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.450 |
- |
Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), hạt tiêu đen tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong số các chủng loại hạt tiêu xuất khẩu của Việt Nam 8 tháng năm 2026, chiếm 68,5% tổng lượng và 68,6% tổng trị giá. Xuất khẩu chủng loại này trong 8 tháng năm 2026 đạt 131,2 nghìn tấn, trị giá 842,8 triệu USD, tăng 15,2% về lượng và tăng 13,0% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Tiếp đến là chủng loại hạt tiêu trắng xuất khẩu đạt 20,3 nghìn tấn, trị giá 150,4 triệu USD, tăng 20,4% về lượng và tăng 13,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Trong khi đó, xuất khẩu hạt tiêu đen xay và hạt tiêu trắng xay tăng lần lượt 4,0% và 7,3% về lượng, nhưng trị giá gần như đi ngang.
Về cơ cấu chủng loại, trong 8 tháng năm 2026, hạt tiêu đen và hạt tiêu đen xay là các chủng loại hạt tiêu xuất khẩu chính của Việt Nam, chiếm 81,8% tổng lượng xuất khẩu, giảm nhẹ so với mức 83,4% cùng kỳ năm trước. Trong đó, tỷ trọng hạt tiêu trắng tăng lên 10,6% từ mức 10,2% và nhóm các chủng loại khác tăng lên 4,0% từ mức 2,6%
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-410-nguoc-chieu-the-gioi-gia-tieu-noi-dia-tang-nhe-500-dongkg-trong-tuan-qua-202610411828224.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/