Kết thúc tuần qua, giá tiêu tại các vùng sản xuất trọng điểm dao động trong khoảng 138.000–142.000 đồng/kg, biến động trái chiều so với tuần trước tại Đắk Lắk và Gia Lai, trong khi giữ ổn định ở các địa phương khác.
Cụ thể, tại Đắk Lắk, giá tiêu tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 142.000 đồng/kg – cao nhất thị trường. Ngược lại, Gia Lai giảm 1.500 đồng/kg, xuống còn 138.000 đồng/kg, thấp nhất trong các khu vực khảo sát.
Ở các địa phương khác, giá tiêu tương đối ổn định: Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) duy trì ở mức 141.000 đồng/kg, còn Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) và Đồng Nai cùng ghi nhận mức 140.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 26/4 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với tuần trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
142.000 |
+1.000 |
|
Gia Lai |
138.000 |
-1.500 |
|
Đắk Nông |
141.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
140.000 |
- |
|
Bình Phước |
140.000 |
- |
|
Đồng Nai |
140.000 |
- |
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá hồ tiêu thế giới trong tuần qua nhìn chung ít biến động, chỉ riêng thị trường Indonesia ghi nhận xu hướng giảm.
Cụ thể, giá tiêu đen Indonesia chốt tuần ở mức 7.007 USD/tấn, giảm 0,51% (tương đương 36 USD/tấn) so với tuần trước.
Trong khi đó, giá tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giữ ổn định ở mức 6.000 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia duy trì ở mức 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu không thay đổi, dao động trong khoảng 6.100–6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 26/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
7.007 |
-0,51 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.000 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.200 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, tiêu trắng Muntok của Indonesia đạt 9.231 USD/tấn, giảm 0,52% (48 USD/tấn) so với tuần trước.
Tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng tiếp tục đi ngang ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 26/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.231 |
-0,52 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.000 |
- |
Theo báo cáo của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), Đức là thị trường nhập khẩu hạt tiêu (HS 090411, 090412) lớn nhất trong khu vực EU, chiếm khoảng 20-30% tổng lượng nhập khẩu của EU. Đức cũng là một trong những thị trường xuất khẩu hạt tiêu lớn của Việt Nam.
Trong những năm gần đây, nhập khẩu hạt tiêu của Đức có nhiều biến động, đạt mức cao nhất là 32,8 nghìn tấn trong năm 2021, sau đó giảm liên tiếp trong năm 2022 và năm 2023, đạt lần lượt là 27,05 nghìn tấn và 20,8 nghìn tấn. Sau đó, nhập khẩu hạt tiêu của Đức đã tăng trở lại trong 2 năm gần đây, đạt mức 29,9 nghìn tấn trong năm 2025.
Theo số liệu mới nhất từ Cơ quan Thống kê châu Âu, trong tháng 01/2026, nhập khẩu hạt tiêu của Đức từ thị trường ngoại khối đạt 12,4 nghìn tấn, trị giá 9,59 triệu USD (quy đổi 1 Euro = 1,1782 USD), giảm 32,2% về lượng và giảm 32,7% về trị giá so với tháng 01/2025.
Đức nhập khẩu hạt tiêu từ 70 thị trường, trong đó, nhập khẩu từ thị trường ngoại khối là chủ yếu, chiếm từ 79,4% đến 85,4% trong giai đoạn 2021-2025.
Việt Nam là nước cung cấp lớn nhất hạt tiêu vào thị trường Đức, chiếm khoảng 50% tổng lượng nhập khẩu từ các thị trường ngoại khối. Bên cạnh đó Đức còn nhập khẩu hạt tiêu từ thị trường Brazil. Đáng chú ý, thị phần hạt tiêu của Việt Nam tại Đức đã tăng đáng kể trong những năm gần đây, từ mức 37,64% năm 2021 lên 61,89% năm 2025. Trái lại, thị phần hạt tiêu của Brazil tại Đức giảm từ mức 46,95% năm 2021 xuống 24,74% năm 2025.
Nhập khẩu hạt tiêu của Đức từ thị trường ngoại khối có nhiều biến động trong 5 năm gần đây, và xu hướng chung là giảm, với tốc độ giảm nhập khẩu bình quân hàng năm là 2,7%/năm về lượng trong giai đoạn 2021-2025.
Trong đó, Đức giảm nhập khẩu hạt tiêu từ các thị trường Brazil, Sri Lanka, Ấn Độ, Indonesia… Ở chiều ngược lại, nhập khẩu hạt tiêu của Đức từ thị trường lớn nhất là Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 10,2%/năm trong giai đoạn 2021-2025. Cho thấy, sản phẩm hạt tiêu của Việt Nam vẫn được ưa chuộng tại thị trường này mặc dù xu hướng nhập khẩu giảm.
Theo Báo cáo “Quy mô và triển vọng thị trường tiêu đen và tiêu trắng của Đức, giai đoạn 2026- 2034” từ nguồn https://deepmarketinsights. com/, quy mô thị trường tiêu đen và tiêu trắng của Đức được định giá 174,89 triệu USD vào năm 2025, dự kiến sẽ mở rộng lên 282,68 triệu USD vào năm 2034, đạt tốc độ tăng trưởng kép hàng năm là 5,48% trong giai đoạn 2026-2034. Trong đó, hạt tiêu đen giữ vị trí dẫn đầu trong các phân khúc theo loại sản phẩm vào năm 2025, và hạt tiêu đen được dự báo sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, duy trì vị thế là phân khúc hấp dẫn nhất theo loại sản phẩm trong suốt thời gian dự báo.
Nhờ lợi thế là quốc gia sản xuất, xuất khẩu hạt tiêu lớn thế giới, Việt Nam đã và đang trở thành nhà cung ứng lớn nhất hạt tiêu vào thị trường Đức. Với dự báo thị trường hạt tiêu Đức tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới, đặc biệt phân khúc tiêu đen – mặt hàng thế mạnh của Việt Nam, sẽ mở ra cơ hội duy trì đà tăng thị phần, củng cố vị trí chủ lực và mở rộng giá trị xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.
Tuy vậy, để tiếp tục mở rộng thị phần hạt tiêu tại Đức, các doanh nghiệp kinh doanh, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam cần lưu ý, Đức có xu hướng yêu thích các sản phẩm hạt tiêu mang tính bền vững và đạo đức; Chú trọng các loai hạt tiêu đã qua chế biến, tiệt trùng và chất lượng cao, trong đó chủ yếu là hạt tiêu đen. Đức nhập khẩu hạt tiêu chủ yếu cho tiêu dùng nội địa và cũng tái xuất khẩu sang các thị trường EU khác như Pháp, Ba Lan.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-264-dak-lak-va-gia-lai-bien-dong-trai-chieu-trong-tuan-qua-202642611398970.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/