Khảo sát cho thấy, giá tiêu trong nước sáng nay dao động quanh mức 139.000–141.000 đồng/kg, đi ngang so với ngày hôm trước.
Cụ thể, Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) tiếp tục ghi nhận mức giá cao nhất 141.000 đồng/kg. Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) và Đồng Nai đứng ở mức 140.000 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai vẫn là địa phương có giá thấp nhất, đạt 139.500 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 20/4 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
141.000 |
- |
|
Gia Lai |
139.500 |
- |
|
Đắk Nông |
141.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
140.000 |
- |
|
Bình Phước |
140.000 |
- |
|
Đồng Nai |
140.000 |
- |
Trong phiên giao dịch gần nhất, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen của Indonesia được niêm yết ở mức 7.043 USD/tấn, tiêu đen Brazil ASTA 570 đạt 6.000 USD/tấn và tiêu đen Malaysia có giá 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục duy trì trong khoảng 6.100 – 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 20/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
7.043 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.000 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.200 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, tiêu trắng Muntok của Indonesia được báo giá ở mức 9.279 USD/tấn. Tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng cũng giữ nguyên ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 20/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.279 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.000 |
- |
Theo báo cáo mới đây của Nedspice, sản lượng hồ tiêu năm 2026 của Việt Nam ước đạt khoảng 160.000 tấn. Vụ thu hoạch đang bước vào giai đoạn cuối, với phần lớn diện tích đã hoàn tất vào cuối tháng 3 do năng suất thấp hơn.
Nhập khẩu tiêu của Việt Nam tăng hơn gấp đôi so với cùng kỳ năm trước trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3, lên 21 nghìn tấn, nhằm duy trì xuất khẩu trong bối cảnh sản lượng suy giảm. Trong đó, nhập khẩu từ Campuchia tăng từ 0,7 nghìn tấn lên 11,7 nghìn tấn.
Xuất khẩu tiêu của Việt Nam trong quý I tăng 39% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 66 nghìn tấn. Mỹ là thị trường lớn nhất với 16,8 nghìn tấn (tăng 64%), trong khi Trung Quốc tăng hơn gấp 4 lần từ 2 nghìn tấn lên 8,5 nghìn tấn. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất – thị trường lớn thứ hai năm 2025 – tăng từ 2,7 lên 3,2 nghìn tấn, và xuất khẩu sang khu vực Trung Đông tăng từ 4,5 lên 5,3 nghìn tấn (tương ứng tăng 18%).
Nguồn cung cho thị trường nội địa vượt kỳ vọng khi một số nông dân chịu áp lực bán ra do chi phí phân bón và nhiên liệu tăng cao (liên quan đến xung đột tại Trung Đông), cùng với các khoản đầu tư mua đất để mở rộng diện tích trồng cà phê.
Giá trong nước giảm dù triển vọng mùa vụ tích cực, chủ yêu do nguồn cung sau thu hoạch và nhập khẩu gia tăng.
Tại Brazil, sản lượng năm 2026 dự báo đạt khoảng 118 nghìn tấn, tăng 18% so với năm trước. Vụ thu hoạch tại khu vực phía Nam của Brazil đã hoàn tất.
Xuất khẩu trong quý đầu năm tăng 11%, đạt 25,6 nghìn tấn. Việt Nam vẫn là thị trường lớn nhất dù nhập khẩu giảm 22%. Thị trường lớn thứ hai là Pakistan tăng mạnh 235%; trong khi Mỹ ghi nhận mức tăng 133%, đạt 1,3 nghìn tấn.
Còn tại Indonesia, giá tăng do lượng hàng tồn kho thấp và thời tiết bất lợi trước vụ thu hoạch tháng 6.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-204-thu-hoach-vao-giai-doan-cuoi-san-luong-dat-khoang-160000-tan-20264208746995.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/