Kết thúc tuần qua, giá tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm dao động trong khoảng 147.500 – 148.500 đồng/kg, giảm mạnh 2.500 – 4.000 đồng/kg so với tuần trước.
Cụ thể, Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) chứng kiến mức giảm mạnh nhất, lên tới 4.000 đồng/kg, đưa giá xuống còn 148.500 đồng/kg.
Tại Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) và Gia Lai, giá giao dịch giảm lần lượt 3.500 đồng/kg và 3.000 đồng/kg, cùng được giao dịch ở mức 148.000 đồng/kg.
Riêng tại Đồng Nai, giá tiêu giảm 2.500 đồng/kg, được thu ở mức thấp nhất là 147.500 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 18/1 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày tuần trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
148.500 |
-4.000 |
|
Gia Lai |
148.000 |
-3.000 |
|
Đắk Nông |
148.500 |
-4.000 |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
148.000 |
-3.500 |
|
Bình Phước |
147.500 |
-2.500 |
|
Đồng Nai |
147.500 |
-2.500 |
Nguồn: Hoàng Hiệp tổng hợp
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), trong tuần qua, giá tiêu thế giới giảm ở hầu hết quốc gia sản xuất hàng đầu.
Tại Indonesia, giá chào bán tiêu đen giảm 154 USD/tấn so với tuần trước, xuống chỉ còn 6.563 USD/tấn.
Tương tự, giá tiêu đen Brazil ASTA 570 cũng ghi nhận mức giảm 50 USD/tấn, đạt 6.100 USD/tấn.
Việt Nam ghi nhận mức giảm mạnh nhất đối với tiêu đen xuất khẩu, giảm 200 USD/tấn, xuống mức 6.400 – 6.600 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
Riêng giá tiêu đen Malaysia tiếp tục giữ ổn định trong suốt tuần qua ở mức 9.000 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 18/1 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.563 |
-2,29 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.100 |
-0,81 |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.000 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.400 |
-3,03 |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.600 |
-2,94 |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok Indonesia giảm 25 USD/tấn trong tuần qua, xuống còn 9.118 USD/tấn.
Giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam giảm 200 USD/tấn, về mốc 9.150 USD/tấn.
Còn tại Malaysia, giá tiêu trắng vẫn giữ nguyên ở mức 12.000 USD/tấn của tuần trước.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 18/1 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.118 |
-0,27 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.000 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.150 |
-2,14 |
Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) cho biết, năm 2025, sản xuất hồ tiêu toàn cầu có xu hướng giảm nhẹ 2,9% so với 2024 đạt khoảng 537 ngàn tấn và giảm 6,9% so với năm 2023 sau giai đoạn giá thấp kéo dài, chi phí đầu vào tăng cao và tác động bất lợi của thời tiết.
Lượng giảm chủ yếu từ Ấn Độ, Indonesia và Sri Lanka trong khi đó sản xuất phục hồi ở Brazil, Việt Nam và Malaysia. Việt Nam tiếp tục đóng vai trò trụ cột ổn định của thị trường, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng cung toàn cầu chiếm 36,2%, tiếp theo là Ấn Độ chiếm 15,8% và Brazil đứng ở vị trí thứ 3 chiếm 15,1%.
Việc sản lượng toàn cầu giảm trong khi nhu cầu tiêu thụ không giảm tương ứng là yếu tố quan trọng góp phần duy trì mặt bằng giá hồ tiêu cao trong năm 2025.
Năm 2025, tổng lượng hồ tiêu xuất khẩu toàn cầu tương đương năm 2024 và đạt khoảng 430 nghìn tấn, giảm 2,7% so với năm 2024 và giảm 2,3% so với năm 2023. Điều này cho thấy thương mại hồ tiêu thế giới bước vào giai đoạn điều chỉnh nhẹ về khối lượng, trong bối cảnh nguồn cung tại một số nước suy giảm và giá tăng cao khiến nhu cầu ở một số thị trường giảm, đặc biệc là vấn đề thuế đối ứng của Mỹ nên nhập khẩu của thị trường này giảm.
Năm 2025, sản xuất hồ tiêu Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tuy nhiên Việt Nam tiếp tục giữ vững vị thế nhà sản xuất hồ tiêu lớn nhất thế giới với sản lượng khoảng 195.000 tấn, tăng so với năm 2024 (180.000 tấn) và tương đương mức năm 2023.
Kết quả này cho thấy nguồn cung của Việt Nam tương đối ổn định nhờ năng suất cải thiện khi tiêu được giá nên người nông dân đã tăng cường đầu tư cho cây tiêu và các vườn tiêu trẻ tăng trưởng ổn định.
Mùa vụ thu hoạch 2026 sẽ gặp nhiều bất lợi về thời tiết khi giai đoạn đầu năm ghi nhận khô hạn kéo dài tại nhiều vùng trọng điểm như Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông và Bình Phước, làm giảm khả năng phân hóa mầm hoa và tỷ lệ đậu trái. Sang mùa mưa, mưa lớn và ẩm độ cao lại làm gia tăng bệnh thối rễ, chết chậm và nấm phytophthora tại các vườn già, ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng và sức cây cho vụ sau.
Trong bối cảnh đó, năng suất trung bình nhiều vùng chỉ đạt mức trung bình, đặc biệt tại các vườn già cỗi và những hộ hạn chế đầu tư kỹ thuật mặc dù các vườn tiêu trẻ vẫn duy trì năng suất, diện tích tái canh dự kiến tăng nhẹ khi giá hồ tiêu duy trì ở mức cao và người trồng tiêu cải thiện khả năng đầu tư.
Một số diện tích trồng mới giai đoạn 2022-2023 bắt đầu bước vào giai đoạn cho thu hoạch ổn định, góp phần bổ sung nguồn cung. Đồng thời, các chương trình chuyển giao kỹ thuật về tưới tiết kiệm, bón phân cân đối và quản lý dịch hại tổng hợp được kỳ vọng sẽ được áp dụng rộng hơn, giúp cải thiện năng suất tại các vùng trọng điểm. Đánh giá sơ bộ sản lượng vụ tiêu 2026 sẽ giảm khoảng 15-20% so với năm 2025.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-181-thi-truong-di-xuong-gia-tieu-giam-den-4000-dongkg-trong-tuan-qua-2026118104422797.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/