Giá tiêu hôm nay 15/9: Chuỗi đi ngang kéo dài 6 ngày liên tiếp

Giá tiêu hôm nay chưa ghi nhận biến động mới khi tiếp tục giao dịch ở mức 137.000 – 141.000 đồng/kg. Dù tiếp tục giữ vai trò quốc gia sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu hàng đầu thế giới, ngành hồ tiêu Việt Nam đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn trong chuỗi giá trị, từ sản xuất, thu mua đến chế biến và xuất khẩu.

Tại thị trường trong nước

Ghi nhận trong sáng nay, giá tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm tiếp tục kéo dài chuỗi ngày đi ngang ở mức 137.000 – 141.000 đồng/kg.

Cụ thể, Đắk Nông (Lâm Đồng) ghi nhận mức giá thu mua cao nhất, đạt 141.000 đồng/kg, tiếp theo là Đắk Lắk với 140.000 đồng/kg. Tại Bà Rịa – Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu được thu mua ở mức 137.500 đồng/kg, trong khi Gia Lai và Đồng Nai cùng đạt 137.000 đồng/kg.

Thị trường

(khu vực khảo sát)

Giá thu mua ngày 15/9

(Đơn vị: VNĐ/kg)

Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg)

Đắk Lắk

140.000

-

Gia Lai

137.000

-

Đắk Nông

141.000

-

Bà Rịa – Vũng Tàu

137.500

-

Bình Phước

137.000

-

Đồng Nai

137.000

-

 

Trên thị trường thế giới

Giá tiêu tại các quốc gia sản xuất hàng đầu cũng không ghi nhận biến động mới sau khi điều chỉnh tăng vào cuối tuần trước.

Theo dữ liệu của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), hiện tiêu đen Indonesia đang được niêm yết ở mức 6.939 USD/tấn, tiêu đen ASTA 570 của Brazil có giá 5.750 USD/tấn và tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.

Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu được giao dịch trong khoảng 6.070 – 6.130 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.

Tên loại

Bảng giá tiêu đen thế giới

Ngày 15/9 (ĐVT: USD/tấn)

% thay đổi so với hôm trước

Tiêu đen Lampung (Indonesia)

6.939

-

Tiêu đen Brazil ASTA 570

5.750

-

Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA

9.300

-

Tiêu đen Việt Nam (500 g/l)

6.070

-

Tiêu đen Việt Nam (500 g/l)

6.130

-

Trên thị trường tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia vẫn được chào bán ở mức 9.500 USD/tấn. Tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng xuất khẩu lần lượt đứng ở mức 8.450 USD/tấn và 12.200 USD/tấn, không thay đổi so với ngày hôm trước.

Tên loại

Bảng giá tiêu trắng thế giới

Ngày 15/9 (ĐVT: USD/tấn)

% thay đổi so với hôm trước

Tiêu trắng Muntok Indonesia

9.500

-

Tiêu trắng Malaysia ASTA

12.200

-

Tiêu trắng Việt Nam

8.450

-

Cập nhật thông tin hồ tiêu

Theo Vneconomy, tại hội thảo khởi động Diễn đàn ngành hàng nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng mới đây, bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), cho biết sản lượng hồ tiêu của Việt Nam hiện duy trì ở mức bình quân từ 175.000-180.000 tấn mỗi năm. Khối lượng xuất khẩu đạt khoảng 230.000-250.000 tấn, trong khi lượng nhập khẩu dao động từ 20.000-25.000 tấn/năm nhằm phục vụ nhu cầu chế biến và tái xuất. Hồ tiêu Việt Nam hiện đã có mặt tại hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Theo số liệu báo cáo của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 190.153 tấn hồ tiêu, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2025. Châu Á là thị trường tiêu thụ lớn nhất với 88.441 tấn, chiếm 46,5% tổng lượng xuất khẩu. Tiếp đến là châu Mỹ với 49.830 tấn, chiếm 26,2%; châu Âu đạt 40.892 tấn, chiếm 21,5%; châu Phi đạt gần 11.000 tấn.

Xét theo từng thị trường, Hoa Kỳ tiếp tục là khách hàng lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam với 44.349 tấn trong 8 tháng đầu năm 2026. Trung Quốc đứng thứ hai với 20.495 tấn, tăng mạnh so với mức 13.282 tấn cùng kỳ năm 2025. Các thị trường quan trọng khác gồm UAE, Ấn Độ, Thái Lan, Đức, Hà Lan, Philippines, Ai Cập và Hồng Kông.

Dù đã đạt được những kết quả tích cực, song bà Liên cho biết chuỗi giá trị hồ tiêu xuất khẩu hiện vẫn tồn tại nhiều hạn chế.

Ở khâu sản xuất, nông hộ và hợp tác xã quy mô nhỏ lẻ vẫn chiếm trên 80%, khiến việc kiểm soát chất lượng, phòng chống dịch bệnh và tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù ngành đang có xu hướng chuyển dần từ canh tác truyền thống sang canh tác hữu cơ và các tiêu chuẩn bền vững như SRP, RA hay GAP, quá trình chuyển đổi vẫn diễn ra chậm và chưa đồng đều giữa các vùng sản xuất.

“Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là vấn đề chất lượng sản phẩm. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, tình trạng trồng xen gây nhiễm chéo và tác động của biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cũng như chất lượng hạt tiêu. Bên cạnh đó, sự thiếu gắn kết giữa các hộ sản xuất khiến việc kiểm soát đồng bộ quy trình canh tác gặp nhiều trở ngại", Bà Hoàng Thị Liên cho biết.

Ở khâu thu mua, hệ thống thương lái và đại lý trung gian vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc thu gom nguyên liệu. Chuỗi cung ứng qua nhiều tầng nấc làm gia tăng chi phí logistics, đồng thời gây khó khăn cho hoạt động truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin sản phẩm.

Đối với khâu chế biến và xuất khẩu, mặc dù nhiều doanh nghiệp đã đầu tư công nghệ chế biến sâu như tiêu trắng, tiêu bột, tiêu ngâm muối và các sản phẩm giá trị gia tăng khác, nhưng tỷ trọng xuất khẩu tiêu thô vẫn còn cao. Trong khi đó, các thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ và Trung Quốc liên tục nâng cao các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, dư lượng hóa chất và yêu cầu phát triển bền vững, tạo áp lực lớn cho doanh nghiệp xuất khẩu. Thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) cùng việc thiếu một thương hiệu quốc gia đủ mạnh cũng đang làm giảm sức cạnh tranh của ngành hàng.

Nhấn mạnh điểm nghẽn cốt lõi của chuỗi giá trị hồ tiêu hiện nay là mối liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân chưa thực sự bền chặt, bà Liên cho biết hoạt động mua bán vẫn chủ yếu diễn ra theo giá thị trường tại từng thời điểm, thiếu các cơ chế hợp tác dài hạn nhằm chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa các bên.

Để tháo gỡ những khó khăn này, VPSA đề xuất tăng cường liên kết sản xuất thông qua việc rà soát, phát triển vùng nguyên liệu, chuẩn hóa dữ liệu cây trồng, cập nhật thông tin về các mô hình liên kết và đẩy mạnh tuyên truyền về lợi ích của kinh tế hợp tác. Các doanh nghiệp cần xây dựng hợp đồng liên kết minh bạch, cam kết về giá cả, đầu ra và quy trình sản xuất nhằm tạo niềm tin cho nông dân tham gia chuỗi.

Song song với đó, việc nâng cao chất lượng sản phẩm cần được thực hiện thông qua kiểm soát chặt chẽ vật tư đầu vào, hạn chế nguy cơ lây nhiễm chéo trong các mô hình trồng xen, quản lý hoạt động phun thuốc bằng thiết bị bay không người lái và mở rộng các chương trình tập huấn canh tác bền vững cho nông dân.

Về dài hạn, ngành hồ tiêu cần tập trung xây dựng thương hiệu quốc gia dựa trên ba trụ cột gồm chất lượng, câu chuyện sản phẩm và trải nghiệm khách hàng. Trong đó, việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về dư lượng tối đa, mở rộng chứng nhận hữu cơ, phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc, kể chuyện thương hiệu trên nền tảng số và thúc đẩy du lịch nông nghiệp sẽ góp phần nâng cao hình ảnh hồ tiêu Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Bên cạnh đó, ngành hàng cần đẩy mạnh đầu tư vào chế biến sâu, mở rộng sản xuất theo hình thức OEM (Mô hình gia công theo thiết kế và công thức có sẵn từ đối tác và phát triển năng lực ODM nhằm tạo ra nhiều sản phẩm giá trị gia tăng như gia vị phối trộn, chiết xuất và các sản phẩm tiện lợi. Đây được xem là hướng đi quan trọng để nâng cao giá trị thu được trong toàn bộ chuỗi cung ứng thay vì phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô như hiện nay.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp, VPSA cũng khuyến nghị chuyển đổi từ mô hình canh tác độc canh sang hệ thống nông lâm kết hợp nhằm tăng khả năng thích ứng, cải thiện tính bền vững của vùng nguyên liệu và bảo đảm sự phát triển lâu dài cho ngành hồ tiêu Việt Nam.

Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-159-chuoi-di-ngang-keo-dai-6-ngay-lien-tiep-2026915646236.htm

In bài biết

Bản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/