Kết thúc tuần qua, giá tiêu trong nước dao động trong khoảng 138.500 – 139.500 đồng/kg, tăng nhẹ 500 đồng/kg tại một số địa phương sản xuất trọng điểm.
Cụ thể, tại Đắk Lắk, giá tiêu tăng 500 đồng/kg, lên mức cao nhất là 139.500 đồng/kg. Tương tự, Gia Lai và Đồng Nai cũng ghi nhận mức tăng 500 đồng/kg, cùng giao dịch ở mức 138.500 đồng/kg.
Trong khi đó, giá tiêu tại Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) và Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) giữ ổn định, lần lượt đứng ở mức 139.000 đồng/kg và 138.500 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 12/4 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với tuần trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
139.500 |
+500 |
|
Gia Lai |
138.500 |
+500 |
|
Đắk Nông |
139.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
138.500 |
- |
|
Bình Phước |
138.500 |
+500 |
|
Đồng Nai |
138.500 |
+500 |
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen của Indonesia đóng cửa tuần qua ở mức 7.074 USD/tấn, giảm 0,58% (41 USD/tấn) so với tuần trước.
Ngược lại, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam tăng 1,64 - 1,67% (tương ứng 100 USD/tấn), lên mức 6.100 – 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
Tại Brazil, giá tiêu Brazil ASTA 570 giữ ổn định ở mức 6.150 USD/tấn. Tương tự, tiêu đen Malaysia cũng đi ngang ở mức 9.300 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 12/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
7.074 |
-0,58 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.150 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
+1,67 |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.200 |
+1,64 |
Cùng chung xu hướng của thị trường tiêu đen, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia giảm 0,58% (54 USD/tấn) trong tuần qua, đạt 9.320 USD/tấn.
Giá tiêu trắng Việt Nam tăng 1,12% (100 USD/tấn) và hiện đang được giao dịch ở mức 9.000 USD/tấn.
Riêng giá tiêu trắng Malaysia duy trì ổn định trong cả tuần qua ở mức 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 12/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.320 |
-0,58 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.000 |
+1,12 |
TTXVN đưa tin, theo số liệu thống kê của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), lũy kế đến hết tháng 3/2026, Việt Nam đã xuất khẩu 66.350 tấn hồ tiêu các loại, trong đó tiêu đen đạt 55.322 tấn và tiêu trắng đạt 11.018 tấn, với tổng kim ngạch đạt 430 triệu USD. So với cùng kỳ 3 tháng đầu năm 2025, lượng xuất khẩu tăng 39,2% và kim ngạch tăng 31,7%, phản ánh đà phục hồi mạnh mẽ của hoạt động xuất khẩu ngay từ quý I.
Xét về thị trường xuất khẩu trong quý I/2026, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất với khối lượng đạt 16.859 tấn, tăng 63,9% so với cùng kỳ và chiếm 25,4% thị phần.
Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ với sản lượng đạt 8.563 tấn, tăng tới 321%, trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ hai.
Tiếp theo là UAE đạt 3.182 tấn, tăng 15,4%; Ấn Độ đạt 2.456 tấn, giảm 27,1%; và Philippines đạt 2.383 tấn, tăng 46,9%. Khu vực châu Á tiếp tục là động lực tăng trưởng chính khi chiếm 46% tổng lượng xuất khẩu, trong khi châu Mỹ chiếm 28% và châu Âu chiếm 20%.
Ở chiều ngược lại, nhập khẩu hồ tiêu cũng tăng mạnh. tính chung 3 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 21.201 tấn hồ tiêu, tăng 118,9% so với cùng kỳ năm 2025, với kim ngạch đạt 121,0 triệu USD. Nguồn cung chủ yếu đến từ Campuchia với 11.686 tấn, chiếm 55,1%; tiếp theo là Brazil đạt 4.601 tấn, chiếm 21,7%; và Indonesia đạt 3.538 tấn, chiếm 16,7%.
Mặc dù xuất khẩu khả quan, nhưng theo VPSA, thị trường hồ tiêu đầu năm 2026 đang đối mặt với sự mất cân đối giữa cung và cầu. Sản lượng vụ 2026 dự báo đạt 170.000–180.000 tấn, giảm từ 15–20% so với vụ trước do thời tiết bất lợi và diện tích cây trồng già cỗi.
Mặc dù vậy, việc tái canh hồ tiêu vẫn rất hạn chế do cạnh tranh từ các loại cây trồng có giá trị cao hơn và không còn quỹ đất mới. Trên phạm vi toàn cầu, sản lượng hồ tiêu năm 2026 được dự báo đạt khoảng 530.000 tấn, tăng nhẹ so với năm 2025 nhưng vẫn thấp hơn mức của năm 2024, trong khi nhu cầu tiêu dùng tiếp tục duy trì ở mức cao.
Theo các doanh nghiệp xuất khẩu, ngoài nguồn cung, ngành hồ tiêu còn chịu áp lực lớn về logistics khi xung đột leo thang tại Trung Đông khiến chi phí vận chuyển tăng gấp 3–4 lần. Nhiều tuyến tàu buộc phải chuyển hướng, tránh khu vực Biển Đỏ, làm kéo dài thời gian vận chuyển và gia tăng chi phí.
Tính đến tháng 3/2026, eo biển Hormuz đã đóng cửa đối với hoạt động vận chuyển container thương mại. Các hãng vận tải lớn như Maersk, MSC và CMA CGM đã ngừng toàn bộ hoạt động đi qua khu vực này. Tình trạng tê liệt khiến các trung tâm trung chuyển quan trọng như Jebel Ali (UAE) cùng các cảng tại Bahrain và Oman phải tạm ngừng hoạt động hoặc rơi vào ùn tắc nghiêm trọng khi tàu thuyền buộc phải tìm nơi trú ẩn an toàn.
Trung Đông hiện chiếm hiện chiếm khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam và là trung tâm trung chuyển quan trọng, tuy nhiên một số doanh nghiệp đã phải tạm ngừng nhận đơn hàng mới nhằm hạn chế rủi ro về chi phí và chậm trễ giao hàng. Nếu tình trạng này kéo dài, hoạt động xuất khẩu hồ tiêu qua Trung Đông và các khu vực lân cận sẽ bị gián đoạn, ảnh hưởng đến tăng trưởng của toàn ngành trong năm 2026.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-tieu-hom-nay-124-trong-nuoc-va-xuat-khau-cung-tang-trong-tuan-qua-2026412114925996.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/