Kết thúc phiên giao dịch ngày 14/10, giá thép thanh kỳ hạn tháng 11/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) tăng 1 nhân dân tệ (0,03%) lên mức 3.093 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 11 giảm 5 nhân dân tệ (0,73%) xuống mức 682 nhân dân tệ/tấn.
Trong khi đó, trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 11 giảm 0,05 USD (0,06%) xuống mức 90,5 USD/tấn.
Diễn biến giá thép thanh kỳ hạn tháng 11/2026 trên Sàn SHFE. Nguồn: Barchart
Giá quặng sắt kỳ hạn tại Đại Liên giảm trong ngày 14/10 do hoạt động bảo dưỡng lò cao gia tăng tại Trung Quốc làm suy yếu nhu cầu, trong khi tồn kho tại các cảng của Australia và Brazil tăng cho thấy nguồn cung dồi dào, theo Reuters.
Hợp đồng quặng sắt tháng 1/2027 giao dịch nhiều nhất trên Sàn DCE kết thúc phiên ban ngày giảm 0,81% xuống 674 nhân dân tệ (100,72 USD)/tấn. Trong khi đó, hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 11 tham chiếu trên Sàn SGX tăng 0,17% lên 90,7 USD/tấn.
Số liệu của công ty tư vấn Shanghai Metals Market (SMM) cho thấy, sản lượng gang lỏng dự kiến bị mất do bảo dưỡng lò cao trong giai đoạn 10 - 16/10 tăng 78.600 tấn so với tuần trước lên 1,9 triệu tấn, tuần tăng thứ ba liên tiếp, nâng tổng mức tăng kể từ cuối tháng 9 lên hơn 270.000 tấn. Sản lượng gang lỏng là thước đo nhu cầu quặng sắt.
Các nhà phân tích của SMM cho biết, giao dịch của các nhà máy thép vẫn hạn chế, chủ yếu mua theo nhu cầu trước mắt. Cước vận tải cũng bước vào xu hướng giảm, làm suy yếu yếu tố hỗ trợ từ chi phí và giá quặng nhiều khả năng duy trì yếu trong ngắn hạn.
Theo công ty tư vấn Mysteel, tồn kho quặng sắt tại 7 cảng lớn ở Australia và Brazil trong tuần kết thúc ngày 11/10 tăng 1,99 triệu tấn lên 12,58 triệu tấn, phục hồi về gần mức trung bình kể từ đầu năm. Các nhà phân tích tại công ty môi giới GF Futures cho rằng, lượng hàng cập cảng sắp tới dự kiến duy trì ở mức tương đối cao, trong khi nhu cầu ảm đạm trong mùa cao điểm có thể khiến giá quặng dao động ở vùng thấp trong ngắn hạn.
Các nguyên liệu sản xuất thép khác trên Sàn DCE suy yếu, trong đó than luyện cốc giảm 1,54% và than cốc giảm 1,6%. Các hợp đồng thép tham chiếu trên Sàn SHFE diễn biến trái chiều. Giá thép thanh giảm 0,39%, thép cuộn cán nóng giảm 0,52%, trong khi thép không gỉ tăng 0,19%.
Số liệu của Tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố ngày 14/10 cho thấy, nhập khẩu quặng sắt của nước này trong tháng 9 đạt 109,82 triệu tấn, tăng 1,2% so với tháng trước nhờ các nhà máy thép tích trữ hàng trước kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, nhưng giảm 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng, nhập khẩu quặng sắt đạt 954,97 triệu tấn, tăng 4,1%.
Nhà phân tích Xie Qingwei tại SMM cho biết, giá quặng giảm 5,7% trong tháng 9 đã khuyến khích hoạt động đặt mua, trong khi một số công ty khai mỏ đẩy mạnh xuất hàng để đạt mục tiêu quý và nguồn cung từ dự án Simandou ở Guinea tăng lên. Tuy nhiên, nhu cầu thực tế suy yếu khi sản lượng gang lỏng bình quân ngày trong tháng 9 giảm 0,7% so với tháng trước xuống 2,36 triệu tấn, theo số liệu của Mysteel.
Xuất khẩu thép của Trung Quốc trong tháng 9 tăng 3,2% so với tháng trước lên 10,49 triệu tấn, tháng thứ 5 liên tiếp vượt 10 triệu tấn nhờ nhu cầu nước ngoài tăng mạnh. Lũy kế 9 tháng, xuất khẩu thép đạt 85,64 triệu tấn, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước.
Ở diễn biến khác, Rio Tinto, nhà sản xuất quặng sắt lớn nhất thế giới, cho biết doanh số quặng sắt từ khu vực Pilbara trong quý III đạt 85,7 triệu tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước và cao hơn mức dự báo 84,41 triệu tấn của Visible Alpha. Công ty giữ nguyên mục tiêu doanh số quặng sắt Pilbara năm 2026 ở mức 323 - 338 triệu tấn. Với 243,4 triệu tấn đã xuất từ đầu năm, Rio Tinto cần xuất 79,6 triệu tấn trong quý IV để đạt mức thấp của mục tiêu.
Dự án Simandou tại Guinea của Rio Tinto đã bán 1,7 triệu tấn quặng sắt (tính theo tấn ướt) trong 9 tháng đầu năm. Để đạt mức thấp của mục tiêu 5 - 10 triệu tấn cả năm, dự án cần bán khoảng 3,3 triệu tấn trong quý IV.
Trong nước, các doanh nghiệp bình ổn giá thép xây dựng. Trong đó, Hòa Phát báo giá mức 14.920 đồng/kg với thép CB240 và 14.210 đồng/kg với D10 CB300; thép Việt Ý Miền Bắc ghi nhận CB240 14.750 đồng/kg và CB300 13.940 đồng/kg. Trong khi đó, Pomina và VJS Miền Bắc đều báo giá CB240 ở mức 14.850 đồng/kg; còn thép Kyoei và VAS Miền Trung chào giá 15.050 đồng/kg.
Giá thép ghi nhận tới ngày 15/10/2026. Nguồn: SteelOnline
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-thep-hom-nay-1510-di-xuong-khi-cac-nha-may-trung-quoc-tang-cuong-bao-duong-lo-cao-2026101422592687.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/