Theo cập nhật từ giasaurieng.net ngày 30/9, giá sầu riêng tại các vùng thu mua chủ lực tiếp tục duy trì ổn định, chưa ghi nhận thay đổi mới. Trong đó, sầu riêng Thái đẹp lựa tại Tây Nam Bộ và Đông Nam Bộ vẫn dẫn đầu mặt bằng giá, đạt 95.000 đồng/kg.
Tại Tây Nam Bộ, sầu riêng RI6 đẹp lựa được thu mua ở mức 63.000 – 65.000 đồng/kg, trong khi RI6 xô dao động 48.000 – 50.000 đồng/kg. Với sầu riêng Thái, loại đẹp lựa có giá 94.000 – 95.000 đồng/kg, còn hàng mua xô giữ mức 75.000 – 77.000 đồng/kg.
Khu vực Đông Nam Bộ tiếp tục giữ mặt bằng giá ổn định. RI6 đẹp lựa được thương lái thu mua 48.000 – 65.000 đồng/kg, còn RI6 xô phổ biến ở mức 48.000 – 50.000 đồng/kg. Sầu riêng Thái đẹp lựa có giá 94.000 – 95.000 đồng/kg, trong khi hàng mua xô dao động 75.000 – 77.000 đồng/kg.
Tại Tây Nguyên, các mức giá cũng chưa có sự điều chỉnh. RI6 đẹp lựa hiện được thu mua 52.000 – 54.000 đồng/kg, RI6 xô ở mức 25.000 – 30.000 đồng/kg. Sầu riêng Thái đẹp lựa dao động 72.000 – 74.000 đồng/kg, còn hàng mua xô giữ mức 32.000 – 35.000 đồng/kg.
|
*(Đơn vị tính: đồng/kg) |
|||
|
Tên loại Sầu Riêng |
Ngày 30/9/2026 |
Ngày 28/9/2026 |
Thay đổi |
|
KHU VỰC MIỀN TÂY NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
63.000 – 65.000 |
63.000 – 65.000 |
- |
|
RI6 Xô |
48.000 – 50.000 |
48.000 – 50.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
94.000 – 95.000 |
94.000 – 95.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
75.000 – 77.000 |
75.000 – 77.000 |
- |
|
KHU VỰC MIỀN ĐÔNG NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
48.000 – 65.000 |
48.000 – 65.000 |
- |
|
RI6 Xô |
48.000 – 50.000 |
48.000 – 50.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
94.000 – 95.000 |
94.000 – 95.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
75.000 – 77.000 |
75.000 – 77.000 |
- |
|
KHU VỰC TÂY NGUYÊN |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
52.000 – 54.000 |
52.000 – 54.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 – 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
72.000 – 74.000 |
72.000 – 74.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
32.000 – 35.000 |
32.000 – 35.000 |
- |
Số liệu: giasaurieng.net
Tổng hợp: Hà My
Báo Nông nghiệp và Môi trường đưa tin, theo TS Phan Việt Hà, Phó Viện trưởng Phụ trách Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (Viện WASI), sầu riêng là một trong những mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu mang lại giá trị kinh tế cao. Năm 2025 xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam đạt trên 3,8 tỷ USD và ước tính sẽ vượt 4 tỷ USD trong năm 2026. Sầu riêng đang ngày càng khẳng định là một trong những mặt hàng nông sản có giá trị kinh tế cao, đem lại thu nhập cao cho người dân, nhất là khu vực Tây Nguyên.
Thống kê cho thấy, hiện nay toàn vùng Tây Nguyên có khoảng 95.000 ha sầu riêng, trong đó tỉnh Lâm Đồng có khoảng 45.000 ha, tỉnh Đắk Lắk có trên 44.000 ha, sản lượng năm 2026 của tỉnh Đắk Lắk ước đạt trên 500.000 tấn, đây là những vùng sản xuất tập trung, có vai trò lớn trong nguồn cung xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam.
Tuy nhiên, cơ hội thị trường luôn đi kèm với những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm soát dư lượng, truy xuất nguồn gốc và tính minh bạch của toàn bộ chuỗi sản xuất. Việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của từng thị trường xuất khẩu vì vậy không còn là lựa chọn, mà là điều kiện cần để duy trì và mở rộng thị trường.
Theo TS Phan Việt Hà, mã số vùng trồng, kiểm dịch và dư lượng trở thành các mắt xích bắt buộc trong chuỗi xuất khẩu sầu riêng chính ngạch. Sản phẩm sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc phải xuất phát từ các mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được thẩm định và phê duyệt. Nếu không tuân thủ, hệ quả không chỉ dừng lại ở một lô hàng không đạt yêu cầu bị từ chối mà còn làm gia tăng chi phí kiểm tra, lưu kho, xử lý và thu hồi ảnh hưởng đến doanh nghiệp, người sản xuất và quan trọng hơn là uy tín của sầu riêng Việt Nam trên thị trường quốc tế. Do vậy, vấn đề đặt ra hiện nay không phải là tìm kiếm một giải pháp cho riêng một doanh nghiệp hay một người nông dân, mà cần một giải pháp cho cả chuỗi giá trị.
TS Phan Việt Hà cho biết, cadimi có thể có nguồn gốc từ đất, nước, vật tư đầu vào và các chế phẩm được sử dụng trong quá trình canh tác sầu riêng, trong khi chất vàng O chủ yếu xuất hiện trong chuỗi sơ chế, bảo quản và lưu thông sản phẩm sau thu hoạch. Như vậy, việc kiểm soát Cadimi và vàng O là 2 hoạt động hoàn toàn tách biệt và ở 2 công đoạn khác nhau của chuỗi sản xuất sầu riêng.
Để giải quyết bài toán này cần dịch chuyển trọng tâm sang kiểm soát nguy cơ từ sớm ngay trong chuỗi giá trị, từ vùng trồng, vật tư đầu vào, cơ sở đóng gói, thay vì chỉ phụ thuộc vào kiểm tra thụ động tại cửa khẩu. Việc đánh giá đúng hiện trạng, xác định nguồn và cơ chế phát sinh nguy cơ là cơ sở quan trọng để xây dựng các giải pháp kiểm soát phù hợp.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/gia-sau-rieng-hom-nay-309-neo-o-muc-cao-chu-dong-kiem-soat-cadimi-vang-o-trong-chuoi-gia-tri-sau-rieng-202693085145350.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/