Capesize là dòng tàu hàng rời cỡ lớn, phổ biến ở trọng tải 170.000 - 180.000 DWT, chủ yếu chở quặng sắt, than và bauxite. Tuyến C3 (cảng Tubarão, Brazil - cảng Thanh Đảo, Trung Quốc) là tuyến tham chiếu của Baltic Exchange cho cước giao ngay chở quặng sắt từ Brazil sang Trung Quốc.
Trong tuần kết thúc ngày 2/10, cước C3 giảm 4,75 USD so với tuần trước đó, xuống 37,65 USD/tấn, theo số liệu Baltic Exchange do hãng phân tích vận tải biển Signal Ocean tổng hợp. Baltic Exchange cho biết thị trường Capesize đã mất toàn bộ mức tăng của tuần trước đó khi lượng tàu sẵn có tăng lên, đặc biệt ở khu vực phía Đông.
Ở mức cước này, thu nhập quy đổi theo ngày (TCE) của tàu trên hành trình khứ hồi Trung Quốc – Brazil hoặc Tây Phi đạt khoảng 41.814 USD/ngày. Thu nhập bình quân 5 tuyến định hạn của tàu Capesize chuẩn 182.000 DWT kết thúc tuần ở mức 45.731 USD/ngày.
Mức cước hiện tại vẫn cao hơn khoảng 80% so với mức 20,93 USD/tấn ghi nhận ngày 20/1. Ngày 4/9, cước C3 đạt 41,55 USD/tấn, khi đó là mức cao nhất trong nhiều năm và cao hơn khoảng 70% so với mức bình quân 24,50 USD/tấn của tháng 9/2025, theo Signal Ocean. Trong nửa cuối tháng 9, cước C3 dao động quanh 42–43 USD/tấn.
Baltic Exchange ghi nhận các hợp đồng thuê tàu tuyến C3 cho lịch xếp hàng tháng 10 được chốt ở mức 42 USD/tấn, có hợp đồng tiến sát 43 USD/tấn.
Cước tàu Capesize chở quặng sắt sang Trung Quốc từ Brazil (C3) và Tây Australia (C5), từ ngày 20/1/2026 - 2/10/2026. Nguồn: L.H tổng hợp Baltic Exchange
Quãng đường dài là lý do cước phí mỗi tấn quặng từ Brazil cao hơn nhiều so với quặng từ Australia. Theo dữ liệu vận tải biển do Reuters tổng hợp, một chuyến tàu từ Tubarão tới Thanh Đảo mất khoảng 45 ngày, trong khi chuyến từ cảng Port Hedland (Tây Úc) tới Thanh Đảo mất khoảng 11 ngày, tức hành trình từ Brazil dài gấp khoảng 4 lần.
Signal Ocean đánh giá đợt tăng cước đầu tháng 9 đến từ nhu cầu. Trong tuần kết thúc ngày 4/9, cước tăng cùng lúc với số tàu Capesize chạy không hàng (ballast) đang trên đường tới vùng nhận hàng. Số tàu này trên toàn cầu tăng 9% so với tuần trước, lên 624 chiếc.
Theo hãng này, việc cước và lượng tàu sẵn có cùng tăng cho thấy thị trường mạnh lên nhờ nhu cầu mở rộng chứ không phải do nguồn cung tàu bị hạn chế. Cùng tuần, trên tuyến C3, lượng tàu dự kiến có mặt thấp hơn nhu cầu thuê dự kiến trong toàn bộ khung thời gian dự báo của Signal Ocean.
Số liệu chuyến tàu của Signal Ocean cho thấy nhu cầu tăng tập trung ở miền Nam Brazil. Trong 8 tháng đầu năm 2026, có 127 chuyến tàu đi từ cảng Tubarão tới Trung Quốc, tăng khoảng 15% so với 110 chuyến cùng kỳ năm 2025 và 90 chuyến cùng kỳ năm 2024. Ngược lại, số chuyến tàu từ cảng Ponta da Madeira ở miền Bắc Brazil giảm từ 256 chuyến xuống 234 chuyến trong cùng kỳ.
Đến ngày 2/10, cân đối cung – cầu tàu trên tuyến C3 đã thay đổi. Signal Ocean ghi nhận lượng tàu dự kiến có mặt chỉ thấp hơn nhu cầu trong khoảng 30 ngày tới, sau đó vượt lên. Số tàu Capesize chạy không hàng trên toàn cầu ở mức 620 chiếc, tập trung ở phía Đông với 235 chiếc tại khu vực Australasia và 194 chiếc tại Ấn Độ Dương - Nam Phi, so với 20 chiếc tại Bắc Đại Tây Dương.
Số liệu của Ban Thư ký Ngoại thương Brazil (Secex) cho thấy, xuất khẩu quặng sắt của Brazil (không tính quặng viên) trong tháng 9 đạt 31,66 triệu tấn, giảm gần 8% so với mức 34,41 triệu tấn của tháng 8. Do tháng 9 có 30 ngày, ít hơn tháng 8 một ngày, mức giảm tính theo bình quân ngày là khoảng 5%.
Xuất khẩu quặng sắt của Brazil, không gồm quặng viên. Số trên đỉnh cột là tổng xuất khẩu. Nguồn: L.H tổng hợp Secex (Ban Thư ký Ngoại thương Brazil).
Phần lớn mức sụt giảm đến từ thị trường Trung Quốc. Tổng xuất khẩu tháng 9 giảm 2,75 triệu tấn, trong đó lượng quặng sang Trung Quốc giảm 2,62 triệu tấn, xuống 25,03 triệu tấn. Xuất khẩu sang châu Âu, Nam Mỹ, châu Phi và Mexico đều tăng so với tháng 8. Trang tin ngành thép SteelOrbis nhận định mức giảm có thể phản ánh cước tuyến Brazil - Trung Quốc tăng cao, khiến một số nhà xuất khẩu Brazil tạm ngừng giao hàng. Xuất khẩu quặng viên trong tháng giảm 17%, còn 2,28 triệu tấn.
Dù giảm so với tháng 8, lượng quặng Brazil sang Trung Quốc trong tháng 9 tương đương tháng 4 (25,26 triệu tấn) và tháng 7 (25,54 triệu tấn). Mức cao nhất từ đầu năm là 32,07 triệu tấn trong tháng 6.
Số liệu theo tuần biến động mạnh hơn. Trong tuần kết thúc ngày 11/9, hãng nghiên cứu BigMint ghi nhận tổng lượng quặng sắt xuất khẩu đường biển toàn cầu giảm 4,4% so với tuần trước, xuống 30,7 triệu tấn, trong đó lượng hàng từ Brazil giảm trong bối cảnh cước tuyến Brazil – Trung Quốc ở mức cao.
Đến tuần kết thúc ngày 2/10, lượng quặng xuất đi từ Brazil tăng 26,85% so với tuần trước, lên 8,60 triệu tấn, trong khi lượng hàng từ Úc giảm 6,26%, còn 19,46 triệu tấn, theo hãng dữ liệu Shanghai Metals Market (SMM). SMM liên hệ mức tăng của Brazil với việc cước tuyến Brazil – Trung Quốc giảm khỏi vùng đỉnh.
Ngày 29/9, CSN Mineração, công ty con mảng khai mỏ của tập đoàn thép CSN và là nhà xuất khẩu quặng sắt lớn thứ hai Brazil, thông báo tạm giảm sản xuất quặng hàm lượng thấp tại nhà máy tuyển khô thuộc tổ hợp Pires ở Ouro Preto, bang Minas Gerais. Công ty cho biết quyết định này xuất phát từ điều kiện thị trường khó khăn hơn, trong đó có áp lực từ chi phí cước tăng, làm thu hẹp biên lợi nhuận của loại quặng này.
CSN Mineração hạ kế hoạch sản lượng khai thác và mua ngoài năm 2026 từ 45 - 47 triệu tấn xuống 39 - 41 triệu tấn, đồng thời nâng dự báo chi phí tiền mặt trực tiếp (C1) từ 22 - 23,5 USD/tấn lên 25 - 26 USD/tấn.
Trước đó, giữa tháng 9, Itaminas, một doanh nghiệp khai mỏ tư nhân của Brazil, thông báo giảm sản lượng quặng sắt tại nhà máy Sarzedo, bang Minas Gerais.
Công ty nêu lý do chi phí tăng, chủ yếu là cước vận tải biển bị đẩy lên bởi xung đột ở Trung Đông. Itaminas cho 300 lao động, tương đương một phần ba lực lượng lao động trực tiếp, nghỉ phép tập thể một tháng kể từ ngày 28/9, song nhà máy không dừng hoạt động hoàn toàn.
Công ty có công suất ước tính 6,5 triệu tấn/năm, sản xuất quặng tinh làm nguyên liệu vê viên (pellet feed) hàm lượng sắt 62 - 64%, quặng cám làm nguyên liệu thiêu kết (sinter feed) và quặng cục nhỏ hàm lượng sắt 56 - 58%.
Vale, nhà sản xuất quặng sắt lớn nhất Brazil, vẫn giữ kế hoạch sản lượng năm 2026 ở mức 335 - 345 triệu tấn quặng mịn và 30 - 34 triệu tấn quặng viên. Công ty chứng khoán Ativa của Brazil cho rằng quy mô, chất lượng quặng và hệ thống logistics giúp Vale ít chịu tác động hơn, nên cú sốc khiến CSN Mineração giảm sản lượng không thể mặc nhiên lặp lại với Vale. Một số nhà phân tích tại Brazil cũng chỉ ra CSN Mineração không có hợp đồng phòng ngừa rủi ro cước như Vale.
Cơ cấu đội tàu cũng khiến mức độ chịu tác động khác nhau. Theo hãng môi giới tàu biển Banchero Costa, khoảng 50% lượng quặng sắt Brazil xuất khẩu được chở bằng tàu VLOC (tàu chở quặng rất lớn), 46% bằng tàu Capesize. Cước C3 phản ánh giá thuê tàu Capesize trên thị trường giao ngay.
Cước phí vận chuyển từ hai nguồn cung quặng sắt lớn nhất thế giới vẫn chênh lệch lớn. Trong tuần kết thúc ngày 2/10, cước tuyến C5 (Tây Australia - Thanh Đảo) giảm 1,20 USD so với tuần trước đó, xuống 14,43 USD/tấn. Tính theo cước giao ngay, quặng Brazil tới Thanh Đảo chịu cước cao hơn quặng Australia khoảng 23 USD/tấn. Mức chênh này tương đương ngày 4/9, khi cước C3 ở 41,55 USD/tấn và cước C5 ở 18,21 USD/tấn.
Cùng ngày 2/10, chỉ số giá quặng sắt đường biển 65% Fe của SMM ở 111,15 USD/tấn khô, chỉ số 61% Fe ở 92,35 USD/tấn khô. Quặng Brazil xuất khẩu chủ yếu là loại hàm lượng sắt cao, trong khi quặng Australia phần lớn thuộc nhóm 60–62% Fe.
Giá quặng sắt giảm trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh của Trung Quốc, khi thị trường nội địa nước này đóng cửa. Trên sàn Singapore (SGX), hợp đồng giao dịch nhiều nhất giảm từ 93,50 USD/tấn ngày 30/9 xuống 91,35 USD/tấn ngày 3/10, tương đương giảm 2,3%. Từ ngày 30/9 đến ngày 5/10, chỉ số 61% Fe của SMM giảm 2,34%, trong khi chỉ số 65% Fe giảm 1,07%.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/cuoc-tau-capesize-tuyen-brazil-trung-quoc-neo-cao-mot-so-mo-quang-sat-brazil-giam-san-luong-2026108231553238.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/