Chính phủ muốn tăng thu ngân sách giai đoạn 2026 - 2030 lên 18%, tăng bội chi lên 5% và trần nợ công lên 50% GDP

Để phục vụ cho đầu tư phát triển, Chính phủ đặt mục tiêu tăng huy động ngân sách giai đoạn 2026 - 2030 thêm 1 - 2 điểm % GDP, tăng mục tiêu tỷ trọng thu nội địa từ 86 - 87% lên 87 - 88% và điều chỉnh mức bội chi ngân sách đến năm 2030 từ 3% GDP lên khoảng 5% GDP,  trần nợ công tăng từ 45% lên 50% GDP.

 

Đây là một trong những nội dung quan trọng tại Quyết định số 1119 mà Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng vừa ký.

Theo đó, Chính phủ đặt mục tiêu tăng huy động ngân sách giai đoạn 2026 - 2030 thêm 1 - 2 điểm % GDP (từ khoảng 16 - 17% lên 18%), tăng mục tiêu tỷ trọng thu nội địa từ 86 - 87% lên 87 - 88%.

Cơ cấu chi ngân sách được nêu chi tiết hơn với mục tiêu chi đầu tư phát triển đạt khoảng 40% tổng chi ngân sách nhà nước, chi thường xuyên khoảng 51-52%.

Đồng thời, mức bội chi ngân sách đến năm 2030 được điều chỉnh từ khoảng 3% GDP lên khoảng 5% GDP và trần nợ nước ngoài của quốc gia tăng từ 45% lên 50% GDP.

Bên cạnh đó, Quyết định số 1119/QĐ-TTg cũng bổ sung các mục tiêu đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công, tinh gọn đầu mối, chỉ duy trì các đơn vị thực hiện nhiệm vụ chính trị và dịch vụ công thiết yếu.

Đồng thời, đặt ra các chỉ tiêu cụ thể hơn đối với doanh nghiệp nhà nước như có 50 doanh nghiệp lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới vào năm 2030…

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng. (Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội).

Mở rộng tài khoá, chống thất thu, chuyển giá thương mại

Để đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên, Chính phủ đưa ra các giải pháp tài khoá mở rộng hợp lý, đồng thời tiết kiệm triệt để để đảm bảo nguồn lực thúc đẩy các động lực tăng trưởng kinh tế.

Trong đó, Chính phủ đặt mục tiêu xây dựng hệ thống thuế hiện đại, minh bạch; quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lợi nhuận sau thuế của khu vực doanh nghiệp nhà nước; nâng cao chất lượng nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, tăng tính bền vững của nền tài chính quốc gia. Thực hiện tăng thu, tăng cường quản lý, chống thất thu, chuyển giá, gian lận thương mại.

Đối với chính sách đặc thù tài chính - ngân sách của địa phương, tập trung khai thác các nguồn thu mới; không ban hành các cơ chế, chính sách, quy định đặc thù về miễn, giảm, ưu đãi thuế cao hơn quy định của pháp luật về thuế, pháp luật khác về thu ngân sách nhà nước.

Không quy định phân cấp nguồn thu ngân sách nhà nước, để lại nguồn thu ngân sách trung ương khác với quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Kết luận số 93-KL/TW của Bộ Chính trị (trừ trường hợp theo chủ trương của cấp có thẩm quyền).

Bố trí chi ngân sách nhà nước để thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia bảo đảm hiệu quả, khả thi, không trùng lặp với các chương trình, dự án, chính sách, chế độ, nhiệm vụ chi khác; Tận dụng tối đa công năng sử dụng các trụ sở làm việc hiện có; hạn chế tối đa việc xây dựng mới.

Chính phủ cũng yêu cầu xây dựng mức bội chi ngân sách nhà nước hằng năm bảo đảm trong phạm vi mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030 và theo nhu cầu, tiến độ giải ngân các nhiệm vụ đầu tư phát triển; thực hiện đánh giá hằng năm và giữa kỳ, kịp thời kiến nghị điều chỉnh mục tiêu khi có biến động lớn, bảo đảm khả thi và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Thực hiện giải pháp dự phòng để bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia trong phạm vi cân đối ngân sách nhà nước.

Triển khai áp dụng hiệu quả Luật Quản lý nợ công, tăng cường quản lý rủi ro nợ công, nâng cao minh bạch trong huy động, sử dụng và báo cáo thông tin nợ công, phấn đấu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng tín nhiệm đầu tư.

Chủ động điều hành linh hoạt về công cụ, hình thức vay, kỳ hạn vay, thời điểm vay và khối lượng vay trong năm, gắn với công tác quản lý ngân quỹ, góp phần giảm chi phí, giảm áp lực huy động vốn cho ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu huy động và dự phòng trong thời điểm thị trường không thuận lợi, bảo đảm an toàn nợ công, thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ.

Chính phủ cũng chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương kịp thời có giải pháp quản lý, điều tiết sản xuất, ổn định cung cầu, theo dõi và quản lý chặt chẽ giá cả các mặt hàng, nhất là hàng hóa thiết yếu; đồng thời chủ động điều hành giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý theo lộ trình phù hợp để hạn chế gia tăng kỳ vọng lạm phát.

Bên cạnh đó phải nâng cao năng lực thống kê, chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu, số liệu thống kê. Tăng cường nâng cao hiệu quả công tác phân tích, dự báo tình hình trong và ngoài nước.

Triển khai các giải pháp để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia; ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do trong việc thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế;Nâng cao hiệu quả thực thi, thực hiện các hiệp định thương mại, hiệp định thương mại tự do,...

Chính phủ cũng đặt mục tiêu phát triển thị trường tín chỉ các-bon và các sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện đại theo thông lệ quốc tế; điều chỉnh hạn mức bảo lãnh phát hành trái phiếu của ngân hàng chính sách xã hội.

Mở rộng tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại các ngành nghề không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia; huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, cơ chế ưu đãi quốc tế phục vụ chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.

Đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị trường mới, nhất là các quốc gia mới nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược và chiến lược toàn diện. Tăng cường chống gian lận xuất xứ hàng hóa để bảo vệ uy tín và vị thế của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Tận dụng nguồn lực từ kiều hối, đầu tư của Việt kiều, hợp tác tài chính để kết nối nguồn vốn trí tuệ và tài chính của cộng đồng người Việt ở nước ngoài vào phát triển đất nước. 

 

Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/chinh-phu-muon-tang-thu-ngan-sach-giai-doan-2026-2030-len-18-tang-boi-chi-len-5-va-tran-no-cong-len-50-gdp-202662573739514.htm

In bài biết

Bản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/