Thông tư 25 sửa đổi Thông tư 22 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 là một trong những điểm nhấn chính sách trong thời gian gần đây.
Thông tư được ban hành trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao đòi hỏi hệ thống tài chính phải mở rộng khả năng tài trợ vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Theo đánh giá của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), trọng tâm của chính sách không nằm ở việc nới tín dụng đại trà, mà ở việc điều chỉnh các ràng buộc về cấu trúc kỳ hạn và thanh khoản trong bảng cân đối của ngân hàng thương mại.
Điểm thay đổi quan trọng nhất là nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn (SMLR) từ 30% lên 40%.
"Điều này giúp ngân hàng có thêm dư địa sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ các khoản vay trung dài hạn, qua đó hỗ trợ các lĩnh vực có chu kỳ đầu tư dài như hạ tầng, công nghiệp chế biến và bất động sản", chuyên gia VDSC nhận định.
Lịch sử trần tỷ lệvốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (trục trái) và tỷ lệ LDR thị trường 1 (trục phải) của toàn hệ thống
Cùng với đó, Thông tư mới đã bổ sung trường hợp đặc biệt cho việc gia tăng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước (KBNN) tại các ngân hàng được tính trong công thức LDR cao hơn mức tối đa quy định (20%) trong công thức tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).
Về mặt kỹ thuật, điều này giúp giảm một phần áp lực tuân thủ LDR cho các ngân hàng nhận nguồn tiền gửi KBNN, đặc biệt là nhóm ngân hàng quốc doanh, theo VDSC.
Ở góc độ vĩ mô, chính sách thể hiện sự phối hợp có chủ đích giữa tài khóa mở rộng và tiền tệ nới lỏng có trọng điểm: tài khóa tạo nhu cầu vốn thông qua đầu tư công và các dự án trọng điểm, còn chính sách tiền tệ điều chỉnh ràng buộc kỳ hạn để tăng khả năng hấp thụ vốn.
Tuy nhiên, theo chuyên gia phân tích việc nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn chỉ mở thêm dư địa về kỳ hạn nguồn vốn, chứ không trực tiếp tạo ra nguồn vốn huy động mới.
"Vì vậy, hiệu quả truyền dẫn của chính sách sẽ phụ thuộc lớn vào khả năng cải thiện huy động trong nền kinh tế (thị trường 1), trạng thái LDR của từng ngân hàng và mức độ ổn định của thanh khoản hệ thống.", chuyên gia VDSC cho hay.
Theo nhận định của VDSC, mặc dù quy định mới đã cấp thêm dư địa cho vay kỳ hạn dài nhưng nút thắt LDR vẫn là điểm nghẽn thực thi khi mà chỉ giải quyết một phần ràng buộc về cấu trúc kỳ hạn, trong khi nút thắt lớn hơn hiện nay vẫn là chênh lệch huy động - tín dụng và tỷ lệ LDR đang ở vùng cao tại nhiều ngân hàng.
Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn ở một số ngân hàng quy mô lớn và trung bình tới cuối Q1/2026
Cụ thể, khi nới trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn,các ngân hàng có thể không chịu nhiều áp lực huy động tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên (có chi phí huy động cao hơn) trong khi vẫn duy trì hoặc tăng được dư nợ cho vay dài hạn có lãi suất đầu ra tốt hơn.
Qua đó, áp lực lên biên lãi thuần (NIM) trong ngắn hạn sẽ hạ nhiệt, đặc biệt ở nhóm ngân hàng cổ phần tư nhân đang có tỷ lệ SMLR sát trần 30% hiện tại (như MB, Techcombank, VPBank, Sacombank) - vốn đang chứng kiến chi phí vốn tăng nhanh do áp lực huy động tiền gửi có kỳ hạn trung dài hạn.
Tuy nhiên, khi mà nút thắt về LDR vẫn còn tồn tại, áp lực huy động vẫn rất lớn khiến dư địa cải thiện NIM là không đáng kể trong trung hạn.
Bên cạnh tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, dư địa để các ngân hàng thực sự linh hoạt gia tăng cho vay dài hạn còn phụ thuộc vào một ràng buộc song song là tỷ lệ LDR.
Vào cuối quý I/2026, phần lớn các ngân hàng quy mô lớn và trung bình đang vận hành với LDR tiệm cận hoặc áp sát trần quy định 85%.
Từ 15/5/2026, 20% tiền gửi KBNN có kỳ hạn sẽ được tính trở lại trong phần mẫu số của tỷ lệ LDR và giúp giảm áp lực tuân thủ LDR trực tiếp cho nhóm ngân hàng quốc doanh song mức độ không đáng kể (ước tính giảm 1 - 1,5 điểm % tỷ lệ cuối quý I/2026).
"Do đó, mục tiêu thúc đẩy tài trợ dự án đầu tư dài hạn sẽ chủ yếu dồn vào nhóm ngân hàng còn đệm LDR lớn như HDBank, MSB, OCB, thay vì lan rộng đều toàn hệ thống như kỳ vọng chính sách", chuyên gia của VDSC nhận định.
VDSC cũng cảnh báo việc tăng dư địa cho vay trung dài hạntrong phạm vi nguồn vốn ngắn hạn hiện có mà không tạo ra nguồn vốn huy động mới có thể trầm trọng hóa vấn đề thanh khoản, tạo áp lực tăng lãi suất huy động dai dẳng hơn.
Cùng với đó, mặt bằng lãi suất không ổn định sẽ khiến mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khó đạt hiệu quả như kỳ vọng ban đầu của chính sách.
Công ty chứng khoán này cho rằng các nhóm ngành sẽ được hưởng lợi như ngân hàng; hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông; Công nghiệp chế biến và xuất khẩu; Bất động sản; Xây dựng, vật liệu xây dựng, khu công nghiệp.
Tuy nhiên, tác động đến các nhóm ngành sẽ có sự phân hóa cao. Nhóm hưởng lợi trực tiếp là các ngành có nhu cầu vốn trung dài hạn lớn, mức độ hưởng lợi thực tế còn phụ thuộc vào khả năng giải ngân, chất lượng dự án, sức hấp thụ vốn và mặt bằng chi phí vốn.
Tại các ngân hàng tác động là tích cực nhưng phân hóa, nhóm đang có tỷ lệ SMLR sát mức trần 30% (theo Thông tư 22) sẽ giảm áp lực huy động kỳ hạn dài, qua đó giảm áp lực về NIM.
Các dự án hạ tầng có quy mô vốn lớn, thời gian thu hồi dài và thường cần nguồn tín dụng trung, dài hạn ổn định sẽ có tác động tích cực một cách trực tiếp.
Với bất động sản, chính sách hỗ trợ khả năng tài trợ dự án dài hạn, đặc biệt với chủ đầu tư có pháp lý rõ và dòng tiền tốt. Nhưng không nên đánh đồng tác động chính sách với chu kỳ phục hồi toàn ngành. Pháp lý, thanh khoản thị trường và sức mua vẫn là điểm nghẽn lớn.
Nhóm xây dựng, vật liệu xây dựng, khu công nghiệp được hưởng lợi gián tiếp nếu tín dụng dài hạn thúc đẩy giải ngân đầu tư công, dự án hạ tầng và mở rộng công suất sản xuất. Tuy nhiên, tác động có độ trễ và phụ thuộc vào tiến độ dự án thực tế.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/thong-tu-25-chua-du-de-giai-quyet-nut-that-thanh-khoan-202662683840302.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/