Theo Nikkei Asia, ngành cà phê Indonesia, nhà sản xuất cà phê lớn thứ 4 thế giới,xếp sau Brazil, Việt Nam và Colombia. đang chịu tác động rõ rệt từ thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu, đặc biệt tại các vùng trồng ở Sumatra và Java.
Tại miền nam Sumatra, một nông dân cho biết mưa kéo dài từ năm ngoái khiến cành cà phê teo lại và hoa bị thối. Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cũng dẫn tình trạng mưa quá mức trong giai đoạn ra hoa và phát triển quả tại các vùng trồng robusta ở miền nam Sumatra và một phần Java.
USDA dự báo sản lượng cà phê nhân của Indonesia trong niên vụ 2026/27 sẽ giảm 8% so với niên vụ trước, xuống còn 11,38 triệu bao loại 60 kg. Theo dự báo này, Indonesia là quốc gia duy nhất trong nhóm 5 nhà sản xuất cà phê hàng đầu thế giới ghi nhận sản lượng sụt giảm.
Sau những đợt mưa lớn, ngành cà phê Indonesia tiếp tục đối mặt với nguy cơ hạn hán do hiện tượng El Nino, có thể ảnh hưởng đến giai đoạn ra hoa và gây thêm sức ép lên năng suất robusta.
Năng suất cà phê robusta tại Indonesia hiện ở mức dưới 1 tấn/ha, thấp hơn đáng kể so với khoảng 3 tấn/ha tại Việt Nam. Việc sử dụng các giống năng suất cao còn hạn chế và nhiều nông dân vẫn phụ thuộc vào vật liệu trồng địa phương là những yếu tố khiến năng suất của Indonesia ở mức thấp.
Năng suất cà phê robusta tại Việt Nam đạt khoảng 3 tấn/ha. Ảnh: Lê Anh
Khó khăn trong sản xuất cũng đang phản ánh vào hoạt động xuất khẩu. Trong 5 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Indonesia giảm một phần ba so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 614 triệu USD.
Nikkei Asia cho biết, nếu dự báo của USDA trở thành hiện thực, Ethiopia có thể vượt Indonesia để trở thành nhà sản xuất cà phê lớn thứ 4 thế giới.
Tuy nhiên, triển vọng sản lượng vẫn còn những đánh giá khác nhau. Chủ tịch Hiệp hội Các nhà xuất khẩu và công nghiệp cà phê Indonesia, ông Irfan Anwar, không đồng tình với dự báo sản lượng giảm của USDA và cho rằng sản lượng cà phê hàng năm của nước này có thể tăng 1-2%.
Sản lượng suy giảm tại một số vùng trồng đang gây sức ép lên chuỗi cung ứng cà phê Indonesia.
Một nhà thu gom tại Pagar Alam cho biết lượng cà phê mua được từ nông dân đã giảm 50-70%. Trong khi đó, Asia Makmur, một doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, ghi nhận nguồn cung từ các nhà thu gom địa phương giảm khoảng 30%.
Các nhà xuất khẩu nhỏ cũng chịu sức ép khi có thời điểm giá mua cà phê trong nước cao hơn giá trên thị trường xuất khẩu, trong khi các tập đoàn đa quốc gia có lợi thế về chi phí vốn và khả năng quản trị rủi ro.
Áp lực chi phí cũng lan sang các quán cà phê. Giá hạt cà phê tăng cùng với chi phí điện, nhiên liệu và bao bì khiến biên lợi nhuận của các cửa hàng nhỏ bị thu hẹp.
Tại Besemah Coffee Shop, biên lợi nhuận giảm từ khoảng 30% xuống còn 15-20%. Cửa hàng này đã phải tăng giá bán từ 10 đến 20% để ứng phó với chi phí gia tăng.
Theo Nikkei Asia, ngoài những khó khăn về nguồn cung, ngành cà phê Indonesia còn phải thích ứng với các yêu cầu ngày càng khắt khe tại những thị trường xuất khẩu lớn.
Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) đặt ra yêu cầu về tính minh bạch, khả năng truy xuất nguồn gốc và chứng minh sản phẩm không được sản xuất trên đất bị phá rừng.
Tại Nhật Bản, các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, tính nhất quán về hương vị, an toàn thực phẩm và sản xuất bền vững ngày càng được chú trọng. Các giới hạn về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng đặt ra thêm thách thức đối với cà phê Indonesia.
Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Indonesia sang Nhật Bản năm 2025 giảm xuống 61 triệu USD, từ mức 89 triệu USD của năm 2024, tương đương mức giảm gần một phần ba.
Ở đầu chuỗi sản xuất, nông dân nhỏ lẻ cũng đang đối mặt với tình trạng phân bón khan hiếm và giá tăng mạnh. Dù vậy, cà phê vẫn là một trong những nguồn thu nhập chính, đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế của các hộ nông dân tại những vùng sản xuất.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/thoi-tiet-cuc-doan-day-quoc-gia-san-xuat-ca-phe-lon-thu-tu-the-gioi-vao-the-kho-202692811037371.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/