Sản lượng cà phê Việt Nam trong niên vụ 2026-2027 được dự báo đạt 32,5 triệu bao loại 60 kg. Anhr: Kỳ Anh
Theo báo cáo Coffee Annual công bố tháng 5/2026 của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng cà phê Việt Nam trong niên vụ 2026-2027 được dự báo đạt 32,5 triệu bao loại 60 kg, tăng so với mức 31,7 triệu bao của niên vụ trước. Trong đó, robusta tiếp tục chiếm tỷ trọng áp đảo, với sản lượng dự kiến đạt 31,4 triệu bao, so với 30,5 triệu bao trong niên vụ 2025–2026.
USDA dự báo Việt Nam có thể xuất khẩu 28,95 triệu bao cà phê quy đổi trong niên vụ 2026-2027, tăng khoảng 2% so với niên vụ trước. Các thị trường truyền thống như Đức, Italy, Mỹ, Tây Ban Nha và Nhật Bản tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu cà phê Việt Nam.
Dù vậy, quy mô sản xuất và xuất khẩu chưa phản ánh đầy đủ vị thế thương hiệu của cà phê Việt Nam. Một trong những vấn đề cần xem xét là khả năng chuyển từ cung ứng nguyên liệu sang phát triển sản phẩm có chất lượng, nguồn gốc và giá trị khác biệt.
Theo thông tin từ Bản tin Thị trường Nông, Lâm, Thủy sản ngày 30/9 (Bộ Công Thương), 8 tháng đầu năm, xuất khẩu cà phê Robusta chiếm tỷ trọng 73,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê, trong khi xuất khẩu các chủng loại khác chiếm tỷ trọng thấp. Trong đó, xuất khẩu cà phê Robusta đạt gần 1,12 triệu tấn, trị giá 4,42 tỷ USD, tăng 15,4% về lượng nhưng giảm 11,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025, do giá xuất khẩu giảm.
Chia sẻ tại hội thảo “Để Robusta Việt thoát vai ‘làm nền’ khẳng định thương hiệu riêng” diễn ra vào ngày 9/10, ông Trần Minh Thắng, Trưởng phòng Chính sách xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), cho biết Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới, số một về Robusta. Trong niên vụ 2025/26, Việt Nam sản xuất gần 32 triệu bao, khoảng 97% là Robusta. Theo đó, cứ năm hạt Robusta trên thế giới thì gần hai hạt trồng ở Việt Nam. Trong năm 2025, xuất khẩu lập kỷ lục gần 9 tỷ USD, với 1,59 triệu tấn, khối lượng tăng 18,3%, nhưng kim ngạch tăng tới 58,8%.
Tuy nhiên, trong 7 tháng đầu năm 2026, lượng xuất khẩu đạt khoảng 1,2 triệu tấn, tăng 10,8%, nhưng kim ngạch chỉ 5,45 tỷ USD, giảm 11,2%, do giá bình quân giảm gần 20% xuống khoảng 4.537 USD/tấn. Khi giá trị phụ thuộc vào giá nguyên liệu, thu nhập của cả ngành lên xuống theo thị trường hàng hóa. Lợi thế về nguồn cung, vì vậy, không tự động tạo ra nhận diện thương hiệu. Theo ông Thắng, hiện Việt Nam vẫn đang bán hạt, chưa bán được giá trị.
Báo cáo USDA cho thấy Việt Nam đang từng bước chuyển từ mô hình xuất khẩu chú trọng sản lượng sang nâng cao chất lượng, phát triển sản phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững.
Tính đến năm 2025, khoảng 40% diện tích cà phê Việt Nam đã đạt các tiêu chuẩn chứng nhận bền vững như Rainforest Alliance, Fairtrade, 4C và UTZ.
Chương trình phát triển cà phê đặc sản được triển khai từ năm 2021 cũng tập trung cải thiện chất lượng hạt thông qua kỹ thuật canh tác, thu hái chọn lọc và chế biến sau thu hoạch. Những thay đổi này đang thu hút sự quan tâm của người mua quốc tế tìm kiếm sản phẩm có hương vị khác biệt và nguồn gốc có thể truy xuất.
Tuy nhiên, quá trình nâng cao chất lượng vẫn đối mặt với những thách thức ngay từ vùng nguyên liệu. Theo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), được USDA dẫn lại, khoảng 30% diện tích cà phê hiện nay đã từ 20 năm tuổi trở lên và cần tái canh hoặc cải tạo để duy trì năng suất, chất lượng.
Bên cạnh đó, giá cà phê tăng cao trong giai đoạn 2024-2025 đã khuyến khích nông dân đầu tư mạnh vào sản xuất, nhưng cũng kéo theo rủi ro đối với tính bền vững lâu dài.
USDA ghi nhận tình trạng sử dụng phân bón vượt mức khuyến nghị tại một số khu vực Tây Nguyên. Theo phản ánh của nông dân được báo cáo ghi nhận, chi phí phân bón và nhiên liệu tăng khoảng 30%, trong khi chi phí lao động tăng 33% so với năm trước.
Những yếu tố này cho thấy quá trình nâng cao giá trị robusta không chỉ nằm ở khâu chế biến hay xây dựng hình ảnh sản phẩm, mà còn liên quan đến chất lượng và tính bền vững của nguồn nguyên liệu.
Theo ông Thắng, khoảng trống thể hiện ở ba khoảng cách. Thứ nhất là giữa giá trị thương mại và nhận diện, gần 90% xuất khẩu là cà phê nhân.
Kế đến là khoảng trống giữa quốc gia cung ứng và quốc gia của giá trị. Giá nhập vào Hàn Quốc từ Việt Nam chỉ khoảng 60% bình quân chung, một phần là do cơ cấu Arabica nhưng cũng cho thấy Việt Nam vẫn được định giá như nguồn nguyên liệu.
Cuối cùng là cách giới thiệu về Robusta. Arabica đã được xây dựng bằng ngôn ngữ chất lượng hàng chục năm, còn Robusta vẫn bán theo giá và sản lượng. Về sản xuất, hiện Robusta Việt Nam chủ yếu được sản xuất từ các nông hộ nhỏ, khoảng 60% hộ dưới 2 ha, trong đó hơn một nửa không ghi chép trong thu hoạch hay tiêu thụ. Hơn hết, Việt Nam vẫn chưa thống nhất trong việc quảng bá, chưa có biểu tượng chung cấp quốc gia. Khoảng trống hiện nay không đơn thuần là thiếu quảng bá mà là khoảng trống về định vị.
Cơ cấu sản xuất với số lượng lớn nông hộ đặt ra yêu cầu về tổ chức vùng nguyên liệu, duy trì chất lượng đồng đều và xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc nếu muốn phát triển thương hiệu ở quy mô lớn.
Trong khi đó, yêu cầu về chất lượng và tính bền vững ngày càng được chú trọng. Theo USDA, Việt Nam đang triển khai các hệ thống truy xuất nguồn gốc và chuẩn bị đáp ứng Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR). Tuy nhiên, việc có hơn 600.000 hộ sản xuất nhỏ cũng là một thách thức đối với quá trình thực hiện.
Với sản lượng robusta được dự báo tiếp tục tăng, Việt Nam đang có lợi thế đáng kể về nguồn cung. Tuy nhiên, câu chuyện phát triển ngành cà phê không chỉ nằm ở việc sản xuất và xuất khẩu bao nhiêu, mà còn ở khả năng tạo ra giá trị từ chính sản phẩm của mình.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/robusta-viet-nam-vi-the-lon-tren-thi-truong-the-gioi-vi-sao-thuong-hieu-van-mo-nhat-2026109154827644.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/