Chia sẻ tại Talkshow "Data Talk | Macro Insight: Dòng tiền cuối năm sẽ chảy vào đâu?", phát sóng ngày 9/8, ông Trần Ngọc Báu, Nhà sáng lập và Giám đốc điều hành Công ty Dữ liệu Kinh tế Tài chính WiGroup, cho rằng chu kỳ tiền rẻ kéo dài từ những năm 2012 - 2013 cho đến tận năm 2021 đã đi qua.
"Cơ sở của chu kỳ tiền rẻ đó đến từ hai yếu tố: Một là dòng vốn ngoại đổ vào rất nhiều, việc trung hòa lượng USD dư thừa đó đã đẩy một lượng tiền mặt lớn ra thị trường. Hai là trong một chu kỳ dài, chúng ta đã đẩy được lượng tiền gửi của Kho bạc Nhà nước từ hệ thống Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sang hệ thống ngân hàng thương mại", ông Báu phân tích.
Hiện tại, tăng trưởng tín dụng đang nhanh hơn so với huy động. Điều này tạo áp lực thanh khoản cho hệ thống từ cuối năm 2025 tới bây giờ và vẫn chưa có cơ sở nào cho thấy thanh khoản đã được giải quyết.
Bằng chứng rõ nhất là các ngân hàng hiện nay vẫn đang tăng cường huy động với mức lãi suất nhích lên. Thậm chí, có ngân hàng đẩy thêm các gói huy động bằng trái phiếu với lãi suất lên đến 10%.
Ông Trần Ngọc Báu, Nhà sáng lập và Giám đốc điều hành Công ty Dữ liệu Kinh tế Tài chính WiGroup. (Ảnh: VNB).
Vừa qua, NHNN đã điều chỉnh một loạt các tỷ lệ như: Nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40%; Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước lên 50%,...
Theo CEO Wigroup, khi NHNN có những biện pháp nới lỏng các tỷ lệ này để các ngân hàng có thêm không gian tăng trưởng tín dụng, thì đó cũng là một biện pháp tăng vòng quay vốn. Việc tăng chu chuyển vốn trong nền kinh tế cũng là một yếu tố bổ trợ cho quá trình tăng cung tiền, từ đó đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Tuy nhiên, điểm mấu chốt của Việt Nam là đang thiếu vốn mới. Việc thiếu vốn mới liên quan trực diện đến câu chuyện lãi suất và sự khát thanh khoản của hệ thống hiện tại.
Những chính sách thay đổi tỷ lệ hay các gói tín dụng ưu đãi vừa rồi cơ bản chỉ tác động đến vòng quay vốn, chứ chưa tác động đến lượng tiền thực sự lưu thông trong nền kinh tế. Do đó, mức độ tác động của nó phải đi qua nhiều vòng và bị quyết định bởi nhiều khu vực chứ không chỉ riêng ngành ngân hàng.
Hiện tại, tổng số dư mà Kho bạc Nhà nước đang gửi tại các ngân hàng thương mại đã chạm trần khoảng hơn 780.000 tỷ đồng. Ngày 1/8,NHNN quyết định nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào chỉ số LDR từ 20% lên 50% (áp dụng từ 1/8/2026 đến 31/7/2028).
Quy định mới đồng nghĩa với việc một nửa số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước sẽ được tính vào tổng nguồn vốn huy động khi xác định LDR, thay vì chỉ 20% như trước đây.
Về bản chất, đây không phải là việc nới lỏng các chuẩn mực an toàn hay bơm thêm tiền vào nền kinh tế, mà là điều chỉnh phương pháp phản ánh đúng hơn chất lượng của nguồn vốn có tính ổn định cao.
"Nếu chúng ta chỉ giữ lại khoảng 20% tiền mặt dự phòng và đẩy phần còn lại vào hệ thống ngân hàng thương mại, hệ thống sẽ có thêm vốn rất lớn. Nếu đưa được 300.000 - 400.000 tỷ đồng vào hệ thống, nhu cầu thanh khoản sẽ được giải quyết rất lớn", ông Báu phân tích.
Khi vòng quay đầu tư công diễn ra, lượng tiền nhàn rỗi này sẽ có sự lưu chuyển vào – ra liên tục.Chính sách này sẽ tác động mạnh mẽ hơn nhiều so với việc nới LDR (tỷ lệ dư tín dụng trên số vốn huy động) hay nới các tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, ông Báu cho hay.
Vừa qua, Bộ Tài chính cũng kiến nghị NHNN nghiên cứu cơ chế tính tiền gửi có kỳ hạn của KBNN tại các ngân hàng thương mại vào nguồn vốn huy động nhằm bổ sung thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, thay vì giới hạn mức trần 50% tiền gửi nhàn rỗi của Kho bạc được phép gửi vào ngân hàng thương mại, thì có thể được phép gửi linh động và có thể vượt mức trần đó.
Tuy nhiên, việc điều chỉnh này liên quan đến nhiều bộ ngành như Kho bạc, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước nên cần thời gian.
"Dự kiến phải đến ngày 1/1/2027 mới có khả năng điều chuyển được dòng tiền này. Nghĩa là từ nay đến lúc đó, khoảng trống thiếu hụt thanh khoản vẫn sẽ tiếp tục tồn tại", ông Báu nhận định.
Ông Nguyễn Anh Khoa - Giám đốc Phân tích, CTCP Chứng khoán Agribank (Agriseco), thì cho rằng, những công cụ như: đảm bảo thanh khoản, bổ sung nguồn vốn cho ngân hàng hay triển khai tín dụng vào các lĩnh vực ưu đãi không phải là động lực trực tiếp tạo ra tăng trưởng kinh tế, mà nó chỉ là những công cụ hỗ trợ.
Để tạo ra tăng trưởng kinh tế, động lực rõ nhất phải là sự kết hợp hài hòa giữa tài khóa và tiền tệ. Trong đó, tín dụng là cung cấp vốn cho doanh nghiệp, còn các hoạt động đầu tư công sẽ tạo ra đơn hàng và nhu cầu thực. Khi hai yếu tố này kết hợp hài hòa với nhau thì mới trở thành lực đẩy rõ nét cho tăng trưởng kinh tế.
"Việc chỉ bơm thanh khoản hay bổ sung vốn thôi thì mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là hiệu quả giải ngân, sản lượng doanh thu hoặc việc làm tạo thêm, đó mới là những yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế", ông Khoa cho hay.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/ong-tran-ngoc-bau-chu-ky-tien-re-da-di-qua-can-dua-them-300000-400000-ty-tien-gui-kbnn-vao-he-thong-ngan-hang-202681172018524.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/