Nợ xấu tăng nhanh gấp hơn 3 lần tốc độ tăng dự phòng, chỉ 4/28 ngân hàng còn tỷ lệ bao phủ trên 100%

Nợ xấu tăng nhanh hơn dự phòng, kéo tỷ lệ bao phủ tại 28 ngân hàng xuống 74,1%. Chi phí trích lập gia tăng khiến lợi nhuận trước thuế quý III giảm 4,2% so với quý trước.

Nợ xấu vượt 340.000 tỷ đồng, nợ dưới tiêu chuẩn tăng hơn 50% trong một quý

Đến ngày 30/9/2026, tổng nợ xấu nội bảng của 28 ngân hàng thương mại có cổ phiếu niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán đạt 340.816 tỷ đồng, tăng 25.441 tỷ đồng (+8,1%) so với cuối quý II. Trong khi đó, dư nợ cho vay khách hàng tăng 3,3%, lên 16.097.327 tỷ đồng. Chênh lệch về tốc độ tăng đẩy tỷ lệ nợ xấu toàn nhóm từ 2,02% lên 2,12%, với 24/28 ngân hàng ghi nhận số dư nợ xấu gia tăng.

Phần tăng chủ yếu tập trung ở nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), với số dư tăng 35.233 tỷ đồng (+52,6%), lên 102.271 tỷ đồng, cao hơn cả mức tăng ròng của tổng nợ xấu. Nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng thêm 3.342 tỷ đồng, trong khi nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) giảm 13.134 tỷ đồng. Cơ cấu nợ xấu vì vậy thay đổi đáng kể, với mức tăng của nhóm 3 và nhóm 4 vượt phần giảm ở nhóm có mức độ rủi ro cao nhất.

Đồng thời, nợ cần chú ý (nhóm 2) tăng 38.840 tỷ đồng (+18,1%), lên 253.048 tỷ đồng. Tính cả nhóm nợ này, tổng dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 đạt 593.864 tỷ đồng, tương đương 3,69% dư nợ cho vay khách hàng, so với mức 3,4% cuối quý II. Sự gia tăng đồng thời của nợ cần chú ý và nợ dưới tiêu chuẩn cho thấy quy mô các khoản vay có dấu hiệu suy giảm chất lượng tiếp tục mở rộng.

Xét theo giá trị tuyệt đối, HDBank ghi nhận nợ xấu tăng nhiều nhất (6.250 tỷ đồng), tiếp đến là MB (3.677 tỷ đồng) và Sacombank (3.409 tỷ đồng). Ba ngân hàng đóng góp 52,4% mức tăng ròng của toàn nhóm. Tuy nhiên, xét theo tỷ trọng trên dư nợ cho vay, Sacombank có tỷ lệ nợ xấu 7,33%, cao hơn mức 3,42% tại HDBank, phản ánh sự phân hóa về chất lượng danh mục tín dụng giữa các nhà băng.

Chỉ 4 ngân hàng duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100%, giảm từ 6 nhà băng

Đến cuối tháng 9, tổng số dư dự phòng rủi ro cho vay khách hàng đạt 252.561 tỷ đồng, tăng 5.826 tỷ đồng (+2,4%) so với cuối quý II, tương đương khoảng 23% mức tăng ròng nợ xấu trong cùng giai đoạn. Tốc độ gia tăng dự phòng thấp hơn tốc độ tăng nợ xấu khiến tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) giảm từ 78,2% xuống 74,1%, tương ứng mức thu hẹp 4,1 điểm phần trăm.

Tỷ lệ nợ xấu tăng trở lại 2,12%, tỷ lệ bao phủ giảm xuống 74,1% cuối quý III/2026

Mức bao phủ suy giảm phản ánh khoảng cách ngày càng lớn giữa số dư nợ xấu và dự phòng tích lũy. Trong khi đó, mức trích lập theo quy định đối với từng khoản vay còn phụ thuộc vào nhóm nợ và giá trị tài sản bảo đảm được phép khấu trừ. Tỷ lệ bao phủ do đó thể hiện quy mô dự phòng tương đối, bên cạnh những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hồi và mức độ tổn thất tín dụng.

Trong quý III, LLR giảm tại 21/28 ngân hàng, khiến số nhà băng duy trì tỷ lệ trên 100% giảm từ 6 xuống còn 4. Danh sách này gồm Vietcombank (243,2%), VietinBank (160,4%), Bac A Bank (127,3%) và Techcombank (107,1%).

Chỉ 4/28 ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100%, Vietcombank dẫn đầu

Ngay trong nhóm dẫn đầu, Vietcombank và VietinBank ghi nhận diễn biến trái chiều. Tại Vietcombank, nợ xấu tăng 2.081 tỷ đồng, còn dự phòng tăng 1.183 tỷ đồng, khiến tỷ lệ bao phủ giảm 36,1 điểm phần trăm so với cuối quý II. Ngược lại, VietinBank bổ sung 7.758 tỷ đồng dự phòng, trong khi nợ xấu chỉ tăng 702 tỷ đồng, qua đó cải thiện LLR thêm 26,4 điểm phần trăm.

ACB và VietABank là hai ngân hàng rời khỏi nhóm có tỷ lệ bao phủ trên 100%. Tại ACB, nợ xấu tăng 1.437 tỷ đồng nhưng dự phòng chỉ tăng 205 tỷ đồng, kéo LLR từ 105,3% xuống 90,9%. Cùng kỳ, nợ nhóm 2 cũng tăng 47,1%, lên 7.094 tỷ đồng.

Trong khi đó, VietABank ghi nhận nợ xấu tăng 158 tỷ đồng, đồng thời số dư dự phòng giảm 447 tỷ đồng, khiến tỷ lệ bao phủ thu hẹp từ 100,2% xuống 54,8%. Ngân hàng cũng ghi nhận khoản hoàn nhập dự phòng rủi ro tín dụng ròng khoảng 17 tỷ đồng trong quý. Đến cuối tháng 9, có 9 ngân hàng có LLR dưới 50%, trong đó NCB thấp nhất (25,5%).

Chi phí dự phòng tăng hơn 7.300 tỷ đồng, lợi nhuận 28 ngân hàng giảm gần 4.700 tỷ đồng

Trong quý III, tổng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của 28 ngân hàng đạt 50.780 tỷ đồng, tăng 7.302 tỷ đồng (+16,8%) so với quý trước và 33,4% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 9 tháng, khoản chi phí này đạt 133.763 tỷ đồng, tăng 24,7% so với cùng kỳ.

Trong khi đó, lợi nhuận hoạt động trước dự phòng chỉ tăng 2.660 tỷ đồng (+1,7%) so với quý II. Mức tăng chi phí dự phòng vượt phần cải thiện lợi nhuận hoạt động 4.642 tỷ đồng, tương ứng với mức giảm của lợi nhuận trước thuế (LNTT) toàn nhóm, xuống còn 106.704 tỷ đồng. Tỷ trọng chi phí dự phòng trên lợi nhuận hoạt động trước trích lập theo đó tăng từ 28,1% lên 32,2%, cho thấy chi phí tín dụng gia tăng đã vượt toàn bộ phần lợi nhuận hoạt động tăng thêm trong quý.

Chi phí dự phòng tăng 7.302 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế giảm 4.642 tỷ đồng trong quý III

Đáng chú ý, chi phí trích lập gia tăng nhưng số dư dự phòng cuối kỳ vẫn có thể thu hẹp khi ngân hàng sử dụng nguồn đã tích lũy để xử lý các khoản vay rủi ro. Hoạt động này làm giảm đồng thời giá trị khoản nợ được xử lý và số dư dự phòng trên bảng cân đối kế toán, trong khi chi phí trích lập mới tiếp tục được ghi nhận vào kết quả kinh doanh.

Diễn biến tại Sacombank cho thấy rõ cơ chế này. Trong quý III, ngân hàng ghi nhận 5.729 tỷ đồng chi phí dự phòng, tăng 634 tỷ đồng so với quý II, nhưng số dư dự phòng cho vay khách hàng giảm 9.287 tỷ đồng, còn 17.890 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng đầu năm, Sacombank trích lập 12.807 tỷ đồng dự phòng cụ thể và sử dụng 15.575 tỷ đồng để xử lý rủi ro tín dụng. Quy mô dự phòng được sử dụng trong giai đoạn này vượt mức trích lập cụ thể cùng kỳ, cho thấy hoạt động xử lý nợ diễn ra với giá trị đáng kể.

Cùng thời gian, cơ cấu nợ xấu của Sacombank biến động mạnh. Riêng quý III, nợ nhóm 3 tăng 12.159 tỷ đồng, còn nhóm 5 giảm 9.707 tỷ đồng. Tổng nợ xấu cuối tháng 9 vẫn tăng lên 51.367 tỷ đồng, kéo LLR từ 56,7% xuống 34,8%. Số dư từng nhóm nợ chịu ảnh hưởng từ hoạt động phân loại, thu hồi và xử lý rủi ro. Các khoản nợ đã xử lý bằng dự phòng vẫn tiếp tục được theo dõi để thu hồi theo quy định.

Đến cuối tháng 9, Sacombank còn theo dõi 34.938 tỷ đồng nợ khó đòi đã xử lý ngoại bảng, tăng từ 15.980 tỷ đồng đầu năm. Bên cạnh số dư nợ xấu nội bảng, quy mô này phản ánh khối lượng các khoản nợ ngân hàng tiếp tục quản lý và thu hồi sau khi xử lý về mặt kế toán.

Áp lực chi phí tín dụng cũng ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của những ngân hàng có tỷ lệ bao phủ cao. Tại Vietcombank, chi phí dự phòng tăng từ 503 tỷ đồng trong quý II lên 6.184 tỷ đồng trong quý III, trong khi lợi nhuận hoạt động trước dự phòng giảm 520 tỷ đồng. Hai biến động này kéo LNTT giảm 35,6% so với quý trước, còn 11.218 tỷ đồng.

Tại VietinBank, chi phí dự phòng tăng thêm 2.480 tỷ đồng, vượt mức tăng 1.440 tỷ đồng của lợi nhuận hoạt động trước trích lập, khiến LNTT giảm khoảng 1.040 tỷ đồng. Dù duy trì số dư dự phòng cao hơn nợ xấu nội bảng, cả hai ngân hàng vẫn chịu sức ép lên lợi nhuận do chi phí tín dụng gia tăng trong quý.

Trong khi đó, HDBank ghi nhận thu nhập hoạt động suy giảm trong bối cảnh chi phí dự phòng tăng. Thu nhập lãi thuần quý III giảm từ 9.737 tỷ đồng xuống 9.288 tỷ đồng, còn lợi nhuận hoạt động trước trích lập giảm từ 9.650 tỷ đồng xuống 8.558 tỷ đồng. Cùng kỳ, chi phí dự phòng tăng từ 2.570 tỷ đồng lên 3.381 tỷ đồng, kéo LNTT giảm 26,9% so với quý trước, còn 5.176 tỷ đồng.

Trên bảng cân đối kế toán, số dư dự phòng cho vay khách hàng của HDBank tăng thêm 2.136 tỷ đồng, thấp hơn mức gia tăng nợ xấu, khiến tỷ lệ bao phủ giảm từ 50% xuống 46%.

Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/no-xau-tang-nhanh-gap-hon-3-lan-toc-do-tang-du-phong-chi-428-ngan-hang-con-ty-le-bao-phu-tren-100-2026116174836231.htm

In bài biết

Bản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/