Nhận lệnh giảm lãi suất: Áp lực dồn lên NIM các ngân hàng

Khi dư địa chính sách tiền tệ không còn lớn, áp lực giảm lãi suất dồn lên chính các ngân hàng. Biên sinh lời (NIM) ngân hàng được dự báo tiếp tục chịu áp lực giảm trong nửa cuối năm và chỉ hồi phục khi mặt bằng lãi suất hạ nhiệt.

Mặt bằng lãi suất cao là điều mà bất kể ai cũng không khó để nhận ra trong thời điểm hiện nay, từ người gửi tiền... đến người đi vay tiền

Và nguyên nhân đẩy lãi suất lên cao đó là nhu cầu vốn lớn từ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong khi nguồn cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế là hệ thống ngân hàng lại gặp vấn đề thanh khoản. 

Chênh lệch tín dụng - huy động ngày càng nới rộng mang hàm ý lượng huy động đầu vào không đủ để các nhà băng sử dụng cung ứng ra bên ngoài đồng thời thoả mãn các chỉ tiêu an toàn vốn được nhà quản lý đặt ra, buộc ngân hàng phải chạy đua lãi suất đồng thời tìm đến nhiều nguồn vốn khác.

Mặc dù xác định giảm lãi suất là vấn đề cần phải làm ngay nhưng đại diện NHNN cũng phải thừa nhận rằng đây là một bài toán khó và đầy thách thức đối với cả nhà điều hành và toàn hệ thống ngân hàng.

Mới đây ngày 13/8, trong buổi làm việc với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và lãnh đạo các tổ chức tín dụng, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng lại một lần nữa nhấn mạnh nhiệm vụ giảm thực chất lãi suất cho vay, điều hành tín dụng một cách linh hoạt.

Từ đầu năm trở lại đây, bản thân nhà điều hành chính sách là NHNN cũng đã liên tục thực hiện các công cụ điều tiết (thị trường mở, hoán đổi ngoại tệ,...) đưa ra những chính sách mới trong thời gian gần đây, từ việc nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn hay tăng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước (NHNN) trong cách tính LDR,...

Tất cả đều nhằm đến một đích đến rõ ràng là "hạ lãi suất của nền kinh tế".

Tuy nhiên, khi dư địa chính sách tiền tệ không còn lớn, áp lực giảm lãi suất dồn lên chính các ngân hàng. Và khi đó, ngân hàng sẽ phải tìm cách để cắt giảm chi phí hay chủ động co hẹp biên sinh lời (NIM) của mình.

Từ phía đầu vào, để giảm chi phí vốn, các ngân hàng phải tìm cách để có thêm được những nguồn vốn giá rẻ như tiền gửi không kỳ hạn (CASA), vốn vay nước ngoài,...

Và khi cuộc đua tranh giành thị phần tiền gửi đang khốc liệt như hiện nay, việc lựa chọn giảm lợi nhuận của chính mình có lẽ là điều không tránh khỏi nếu thực sự muốn giảm lãi suất đầu ra.

Muôn cách kéo NIM của các ngân hàng

Tại các buổi gặp gỡ chuyên gia phân tích về kết quả kinh doanh quý II/2026, ban lãnh đạo các ngân hàng đều xác định việc đảm bảo NIM là một trong những mục tiêu quan trọng trong thời gian tới, nhiều giải pháp đã được thực hiện để có thể giảm thiểu những áp lực với NIM trong bối cảnh hiện nay.

Lãnh đạo Vietcombank cho biết NIM của ngân hàng trong nửa đầu năm tăng nhẹ chủ yếu nhờ cơ cấu cho vay trung dài hạn tăng lên 44%, lợi suất cho vay cải thiện và LDR được tối ưu. Áp lực chính đến từ cạnh tranh huy động và mặt bằng lãi suất tiền gửi khó giảm nhanh trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động.

Ngân hàng cũng đưa ra các giải pháp huy động trong nửa cuối năm như tăng CASA và tiền gửi ngoại tệ, phát hành chứng chỉ tiền gửi, mở rộng nguồn vốn trung dài hạn qua trái phiếu và các công cụ tài chính, điều chỉnh lãi suất huy động linh hoạt và lên kế hoạch phát hành trái phiếu cấp 2 tối đa 10.000 tỷ đồng.

Ngoài ra, ngân hàng đang xem xét phát hành trái phiếu bằng USD trong các tháng tới. Với những nỗ lực như vậy, ban lãnh đạo kỳ vọng NIM cả năm có thể duy trì quanh mức hiện tại. 

Trong khi đó tại VietinBank, NIM nửa đầu năm cải thiện nhờ kiểm soát chi phí vốn và nâng hiệu suất sinh lời của tài sản bằng cách ưu tiên vốn cho nhóm khách hàng SME và bán lẻ,...Theo phân tích của ban lãnh đạo, khoảng 50% mức tăng thu nhập lãi thuần đến từ tăng quy mô và 50% từ cải thiện NIM. Ban lãnh đạo kỳ vọng thanh khoản hệ thống cải thiện từ cuối quý III và khẳng định sẽ ưu tiên bảo vệ NIM nếu thanh khoản còn căng thẳng.

Hay tại HDBank, một trong những ngân hàng có NIM cao nhưng sụt giảm so với cuối năm trước (từ 4,8% cuối 2025 về 4,1%), các giải pháp được đưa ra là tăng CASA, đa dạng nguồn vốn quốc tế giá rẻ, đồng thời tập trung vào các khoản cho vay an toàn nhưng lãi suất cao như cho vay tiêu dùng, nông nghiệp - nông thôn và mua nhà, cùng với tài trợ chuỗi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ; tỷ trọng nhóm này hiện khoảng 35 - 40% danh mục.

Một điểm lưu ý thêm nữa là khả năng "chịu áp lực" lên NIM của các ngân hàng là khác nhau. Những nhà băng có lợi thế về CASA, có biên sinh lời cao, ưu thế về quy mô hoặc có được sự linh hoạt trong việc điều tiết chi phí vốn hay cơ cấu cho vay sẽ có khả năng thích ứng tốt hơn.

Theo số liệu từ Wigroup, những ngân hàng hiện có biên sinh lời cao tập trung ở nhóm ngân hàng cổ phần tư nhân như VPBank (5,23%), HDBank (4,12%), KienlongBank (4,05%), MB (4,03%). Với nhóm Big4, biên sinh lời ở mức thấp hơn: Vietcombank 2,81%, VietinBank 2,75% và BIDV 2,15% nhưng lại có lợi thế quy mô lớn.

Nguồn: WiData.

Ở chiều ngược lại, nhóm những ngân hàng quy mô nhỏ với biên sinh lời thấp là những nhà băng sẽ phải đứng trước bài toán "tiến thoái lưỡng nan". Nếu chủ động giảm lãi suất đầu ra, biên sinh lời càng co hẹp và ảnh hưởng tới lợi nhuận cam kết với cổ đông. Nếu không thực hiện, họ có thể bị giảm "room" tín dụng trong năm tới.

Phân tích kỹ hơn về vấn đề này, ông Quản Trọng Thành - Giám đốc Khối Phân tích, Công ty Chứng khoán Maybank Investment Bank (MSVN), cho biết trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng vận hành dựa trên cơ chế cân đối giữa đầu ra (cho vay) và đầu vào (huy động vốn) và hiện tại các ngân hàng đang gặp sức ép từ cả hai phía.

Từ phía đầu vào, mặt bằng lãi suất huy động (bao gồm tiền gửi khách hàng, chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu) đều đã tăng lên và việc kỳ vọng chi phí đầu vào giảm nhanh trong ngắn hạn là tương đối khó.

Theo ghi nhận từ 17 ngân hàng niêm yết, NIM trượt theo năm của các ngân hàng trong quý II có sự cải thiện nhẹ so với quý trước và đạt mức 3,13%, nhưng vẫn thấp hơn con số 3,3% vào cuối năm 2025 hay con số 3,39% so với thời điểm kết thúc 6 tháng đầu năm 2025. Sự cải thiện so với quý I/2026 được lý giải do độ trễ của lãi suất cho vay khi tăng chậm hơn so với lãi suất đầu vào. (Nguồn: MSVN).

Từ phía đầu ra, chuyên gia cho biết mảng cho vay cá nhân/bán lẻ – vốn mang lại biên lãi ròng cao nhất – hiện đang tăng trưởng rất chậm và có khả năng tiếp tục trì trệ. Áp lực tăng trưởng tín dụng dồn chủ yếu sang mảng cho vay doanh nghiệp, nơi vốn dĩ có biên lãi suất thấp hơn. Trong khi đó, lãi suất cho vay còn chịu sự kiểm soát chặt chẽ bởi chỉ đạo của Chính phủ nhằm giữ ổn định và giảm chi phí cho doanh nghiệp.

"Ngân hàng chỉ có thể bảo đảm được NIM nếu họ có sự linh hoạt trong việc chuyển dịch sang các mảng cho vay có NIM cao hơn hoặc kiểm soát tốt chi phí vốn. Khi cho vay cá nhân chậm lại và cho vay doanh nghiệp bị kiểm soát lãi suất đầu ra, toàn bộ gánh nặng bảo vệ NIM phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng hạ chi phí đầu vào.", ông Quản Trọng Thành nhận định.

NIM sẽ chịu áp lực lớn trong suốt quý III và quý IV/2026

Theo dự báo của chuyên gia Quản Trọng Thành, biên lợi nhuận ròng của toàn ngành ngân hàng sẽ tiếp tục chịu áp lực lớn trong suốt quý III và quý IV và chỉ khi cung tiền cải thiện rõ nét từ đầu tư công và lạm phát ổn định giúp lãi suất hạ nhiệt, NIM mới có cơ hội thiết lập lại trạng thái cân bằng.

"NIM trung bình của các ngân hàng sẽ tiếp tục thu hẹp xuống mức 2,8–2,9% trong quý III và quý IV/2026", ông chia sẻ.

Ông cho biết để NIM phục hồi, cần phải thấy chi phí vốn giảm đáng kể và duy trì trong thời gian đủ dài (ít nhất hai quý) và/hoặc các ngân hàng có thể đẩy mạnh trở lại mảng cho vay bán lẻ (vốn có lợi suất cao hơn) - "Điều mà chúng tôi không kỳ vọng sẽ sớm diễn ra trước nửa cuối năm 2027".

Chuyên gia của MSVN cũng chỉ ra ba vấn đề lớn sẽ ảnh hưởng tới triển vọng tăng trưởng và tạo nên sự phân hoá giữa các ngân hàng.

Thứ nhất là vấn đề không gian tăng trưởng tín dụng. Ông cho rằng ưu thế thuộc về các ngân hàng mạnh về cho vay doanh nghiệp, gắn liền với các chương trình phát triển hạ tầng và kinh tế quốc gia. Trong khi đó, các ngân hàng thuần bán lẻ hoặc SME sẽ gặp nhiều thách thức hơn.

Thứ hai là năng lực quản trị chi phí vốn. Khi áp dụng chuẩn mực Basel III, CASA được công nhận đúng bản chất là "nguồn vốn ổn định" (dựa trên hành vi dòng tiền). Các ngân hàng có thế mạnh về ngân hàng giao dịch (Transaction Banking) sẽ tối ưu hóa chi phí vốn và bảo vệ NIM vượt trội.

Thứ ba là khả năng ứng dụng AI, chuyển đổi số. Các ngân hàng thực sự chuyển đổi số sẽ có nền tảng để duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định hơn, kiểm soát chi phí và rủi ro tốt hơn, qua đó duy trì mức lợi nhuận khả quan.

Theo ông, những ngân hàng có thể tái định vị thành ngân hàng của kỷ nguyên mới (thể hiện qua dữ liệu và kết quả chuyển đổi số thực tế) sẽ thu hút được dòng vốn, được thị trường định giá lại ở mức cao hơn đáng kể. Trường hợp của DBS (Singapore) là một ví dụ điển hình, ngân hàng đã nâng mức định giá theo P/B từ 1,1 -1,3 lần khi giao dịch như ngân hàng truyền thống lên gần 2 lần vào năm 2025 và hiện tại đang hơn 3 lần sau khi ứng dụng chuyển đổi số thành công.

Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/nhan-lenh-giam-lai-suat-ap-luc-don-len-nim-cac-ngan-hang-2026814102730384.htm

In bài biết

Bản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/