Trong một chia sẻ vào đầu tháng 3 trên trang cá nhân, ông Võ Quang Huệ - cựu Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Vingroup, người từng trực tiếp giám sát dự án VinFast trong giai đoạn đầu, đã nhắc lại cột mốc chiếc xe VinFast Lux SA2.0 đầu tiên lăn bánh khỏi dây chuyền sản xuất tại Hải Phòng cách đây đúng 7 năm (tháng 3/2019).
Vào thời điểm dự án khởi đầu, thị trường và truyền thông từng xuất hiện không ít bài viết, thông tin nghi ngờ về chất lượng của dòng xe mang thương hiệu Việt. Sự hoài nghi này không chỉ đến từ dư luận mà còn từ chính những người trong ngành.
Theo lời ông Huệ, ngay cả những đồng sự cũ từng học và làm việc chung với ông tại tập đoàn BMW cũng đặt dấu hỏi về tính khả thi của dự án. Khi đó, câu trả lời duy nhất được đưa ra là: "Thời gian sẽ là câu trả lời".
Sau 7 năm, những chiếc xe ngày ấy vẫn đang vận hành ổn định trên đường, đồng thời thương hiệu này đã thiết lập một hệ sinh thái ô tô điện từ thị trường nội địa đến các quốc gia khu vực châu Á.
“Thế nhưng hôm nay, những chiếc xe ấy vẫn chạy bon bon trên đường với chất lượng như ngày đầu cách đây 7 năm”, ông Huệ viết.
Các thành viên VinFast chào đón xe đầu tiên lăn bánh khỏi dây chuyền. (Ảnh: VinFast)
Để hiểu được bối cảnh của những hoài nghi cách đây 7 năm, cần nhìn lại bức tranh chung của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trước năm 2017 - thời điểm VinFast quyết định bước vào “sân chơi” này.
Trong nhiều thập kỷ, ngành công nghiệp này chủ yếu dựa vào mô hình nhập khẩu linh kiện để lắp ráp. Các doanh nghiệp lớn như THACO hay TC Motor đã đạt được những thành tựu nhất định về doanh số và thị phần. Tính đến năm 2020, THACO có tỷ lệ nội địa hóa từ 20% đến gần 46% cho các loại xe.
Tuy nhiên, định hướng của các đơn vị này vẫn là gia công, lắp ráp cho các thương hiệu nước ngoài như Mazda, KIA, Peugeot hay Hyundai. Trong khi đó, nỗ lực tự sản xuất ô tô mang thương hiệu Việt của Vinaxuki với mục tiêu nội địa hóa 40-50% đã phải dừng bước vào năm 2014, để lại khoản nợ nghìn tỷ.
Năm 2017, dự án VinFast chính thức được khởi công tại khu kinh tế Đình Vũ (Hải Phòng) với tổng vốn đầu tư giai đoạn đầu đạt 3,5 tỷ USD. Khác với mô hình lắp ráp đơn thuần, dự án này hướng đến mục tiêu nội địa hóa 60%, dành riêng 70 ha để thu hút các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.
Đội ngũ nhân sự nòng cốt lúc bấy giờ có sự góp mặt của ông Huệ. Trước khi gia nhập Vingroup, ông là một chuyên gia có 24 năm kinh nghiệm tại BMW (chịu trách nhiệm thành lập các nhà máy và điều hành kinh doanh tại Đông Nam Á, Mexico, Ai Cập) và 10 năm làm Tổng giám đốc đầu tiên của Bosch Việt Nam.
Dưới sự điều hành của ban lãnh đạo và đối tác quốc tế, tổ hợp Hải Phòng đã cho ra mắt bốn mẫu ô tô và hai mẫu xe máy điện đầu tiên chỉ trong khoảng thời gian 21 tháng.
Ông Võ Quang Huệ - một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho VinFast. (Ảnh: QuangHue Vo/Facebook)
Thay vì mất hàng chục năm tự nghiên cứu và phát triển (R&D) từ đầu, chiến lược của VinFast mang nét tương đồng với cách Hyundai từng áp dụng vào năm 1974 khi hợp tác với 26 công ty nước ngoài để sản xuất mẫu xe Pony.
Ngay từ những ngày đầu, VinFast đã thiết lập mạng lưới đối tác cung cấp phụ tùng, linh kiện toàn cầu với các tên tuổi như BMW, Magna Steyr, AVL, EDAG, Pininfarina, ItalDesign, Bosch, Siemens.
Khi chuyển đổi hoàn toàn sang xe điện, chiến lược này tiếp tục được duy trì và mở rộng. Hãng hợp tác với ProLogium để sản xuất pin thể rắn, bắt tay với Gotion High-Tech (Trung Quốc) sản xuất cell pin LFP và đầu tư vào Storedot (Israel) cho công nghệ pin sạc siêu nhanh.
Về hệ thống công nghệ và phần mềm, VinFast chọn Cerence làm đối tác cung cấp giải pháp AI và hợp tác cùng ZF (Đức) để phát triển công nghệ hỗ trợ lái lên tới cấp độ 4 (tích hợp trên VF 8, VF 9).
Đồng thời, thông qua việc sử dụng hệ thống DRIVE Xavier trên chip (SoC) và bộ xử lý hiệu suất cao Drive Orin của NVIDIA, kết hợp cùng dữ liệu từ Viện nghiên cứu VinBigData và VinAI, hãng xe Việt đã rút ngắn đáng kể thời gian đưa sản phẩm ra thị trường nhưng vẫn tích hợp các công nghệ ngang hàng với các đối thủ lâu năm.
Thời gian đã đưa ra câu trả lời. Khép lại năm 2025, báo cáo thị trường ghi nhận quy mô doanh số của VinFast đạt mức 175.099 xe ô tô điện bàn giao cho khách hàng Việt Nam.
Con số này tương đương tổng doanh số cộng lại của 3 thương hiệu ô tô nước ngoài đứng kế sau là Toyota (71.954 xe), Hyundai (53.229 xe) và Ford (50.450 xe). Riêng trong tháng 12/2025, hãng bàn giao 27.649 xe, vượt mức doanh số cả năm của thương hiệu Kia (27.176 xe) và tiệm cận tổng doanh số năm của Honda (28.719 xe).
Theo đánh giá của giới chuyên môn, kết quả này được thúc đẩy bởi ba yếu tố cốt lõi. Thứ nhất, hạ tầng trạm sạc với mạng lưới 150.000 cổng sạc trên toàn quốc, đi kèm chính sách sạc miễn phí đến tháng 6/2027.
Thứ hai, chính sách tài chính hỗ trợ người tiêu dùng bao gồm mua xe trả góp 0 đồng, hỗ trợ trực tiếp từ 6-10% giá trị và ưu đãi miễn 100% lệ phí trước bạ.
Thứ ba, chính sách bảo hành lên tới 10 năm cho xe và pin. Chất lượng vận hành cũng được minh chứng thực tế qua các chuyến đi khắc nghiệt của người dùng, điển hình như hành trình xuyên Đông Nam Á đến vùng Tây Tạng (Trung Quốc) có nhiệt độ -10 độ C của VF 8.
Không dừng lại ở thị trường nội địa, VinFast ngày nay đang mở rộng ra nước ngoài. Sau lô 999 xe VF 8 City Edition xuất khẩu đầu tiên sang cảng Benicia (Mỹ) vào cuối năm 2022, chiến lược toàn cầu hiện đang dịch chuyển trọng tâm sang khu vực châu Á với những cứ điểm quan trọng.
Tại Ấn Độ (thị trường ô tô lớn thứ ba thế giới), VinFast đã ký biên bản ghi nhớ (MOU) với chính quyền bang Tamil Nadu đầu tư 2 tỷ USD, cam kết 500 triệu USD cho giai đoạn 5 năm đầu tiên. Nhà máy khởi công tháng 2/2024 (quy mô 160 ha, công suất giai đoạn đầu 50.000 xe/năm) dự kiến khánh thành vào tháng 8/2025.
Việc đầu tư sản xuất nội địa hóa giúp hãng tận dụng hệ sinh thái hơn 400 nhà cung cấp tại bang này, đồng thời hưởng chính sách giảm thuế nhập khẩu từ 110% xuống 15%.
Về mặt bán lẻ, sau khi bàn giao xe từ cuối tháng 10/2025, dữ liệu từ CarBikeBHP cho thấy doanh số tháng 1/2026 của VinFast đạt 432 xe, vượt Hyundai (326 xe) và Kia (306 xe). Sang tháng 2/2026, hãng duy trì vị trí thứ 4 toàn thị trường xe điện du lịch với 384 xe, chiếm 2,8% thị phần.
Hãng cũng thiết lập thỏa thuận với Ngân hàng Nhà nước Ấn Độ (SBI) tài trợ vay 100% giá lăn bánh và Bank of Baroda hỗ trợ tín dụng cho đại lý.
Tại Indonesia, thương hiệu tiến vào từ tháng 2/2024 và lọt top 15 hãng ô tô có doanh số bán lẻ cao nhất tính đến tháng 10/2025. Trong 10 tháng đầu năm 2025, hãng bán 2.789 xe (xếp trên Mazda, BMW, Geely). Lũy kế đến tháng 11/2025, số lượng đạt 3.118 xe, chiếm 3,8% thị phần xe điện.
Vào tháng 12/2025, VinFast đã khánh thành nhà máy tại Subang, Tây Java (quy mô 171 ha, vốn đầu tư hơn 1 tỷ USD, công suất 50.000 xe/năm) với mục tiêu nội địa hóa 40% vào 2026. Hãng xây dựng hệ sinh thái gồm 181 xưởng dịch vụ, trạm sạc V-Green và dịch vụ taxi Xanh SM.
Sự xuất hiện của hệ sinh thái này đang liên tục mở rộng sang các quốc gia khác. Tháng 2/2026, các đối tác tại Indonesia tiếp tục ký MOU mở rộng mảng xe máy điện (Flazz, Evo, Feliz II, Viper). Và ngay tại đảo Cebu (Philippines), dịch vụ taxi Xanh GSM cũng đã đi vào hoạt động thường nhật.
Có thể thấy từ một ý tưởng gây nhiều hoài nghi về khả năng xây dựng nền công nghiệp ô tô không chỉ lắp ráp mà mang thương hiệu tự chủ, đến nay, kết quả từ các chỉ số doanh số, hạ tầng nhà máy và mạng lưới đối tác đã tự đưa ra minh chứng rõ ràng nhất.
Như những người từng chịu trách nhiệm kiến tạo nền móng từ những ngày đầu, ông Võ Quang Huệ, đúc kết lại: Tài sản lớn nhất của dự án không chỉ nằm ở công nghệ, mà nằm ở tư duy kiến tạo để biến những điều tưởng chừng "không thể" trở thành hiện thực.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/nguoi-dat-nen-mong-cho-vinfast-7-nam-truoc-da-co-nhung-nghi-ngo-ngay-hom-nay-nhung-chiec-xe-ay-van-bon-bon-tren-duong-2026312113423899.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/