Ngành sữa Việt Nam còn nhiều dư địa tăng trưởng từ thị trường nội địa

Ngành sữa Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 đạt tốc độ tăng trưởng 12- 14,0%/năm, sản lượng sữa lỏng chế biến khoảng 4.200 triệu lít/năm, nâng tỷ lệ đáp ứng nhu cầu chế biến nội địa lên mức 60-65%.

Sản xuất sữa. (Nguồn: TTXVN).

Để chuyển mình mạnh mẽ trong giai đoạn mới, ngành sữa đặt ra bài toán cốt lõi là xây dựng một ngành công nghiệp chế biến hiện đại và bền vững.

Ngành thúc đẩy đồng bộ từ quy mô đàn bò, tối ưu hóa sản lượng sữa tươi nguyên liệu đến nâng cao hàm lượng công nghệ trong thành phẩm, chiến lược hướng tới mục tiêu kép.

Đó là đáp ứng toàn diện nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước, đồng thời từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh để khẳng định vị thế trên bản đồ ngành sữa thế giới.

Hiện nay, mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người tại Việt Nam mới đạt khoảng 36kg/năm. Chỉ số này thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia như Đan Mạch với 394kg, Pháp 251kg, Mỹ 228kg hay Nhật Bản 61kg.

Thực tế này cho thấy dư địa tăng trưởng của thị trường nội địa còn rất lớn, đặc biệt khi thu nhập và nhận thức về dinh dưỡng của người dân ngày càng được cải thiện.

Đi cùng với tiềm năng tăng trưởng, cơ cấu ngành sữa Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trong hơn 15 năm qua. Tỷ lệ sữa nước chế biến từ sữa bột hoàn nguyên đã giảm mạnh từ mức 92% vào năm 2008 xuống còn 48,6% năm 2020 và tiếp tục giảm sâu xuống còn 32,3% vào năm 2023.

Bò sữa. (Nguồn: TTXVN).

Ngược lại, tỷ lệ sử dụng sữa tươi trong chế biến đã tăng lên 67,7%. Sự dịch chuyển này chứng minh người tiêu dùng trong nước ngày càng khắt khe, ưu tiên các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và minh bạch về nguồn gốc, mở ra một phân khúc tăng trưởng chất lượng cho các dòng sữa tươi sạch.

Tuy nhiên, nguồn cung sữa tươi nguyên liệu trong nước hiện mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu chế biến thực tế. Thực trạng này buộc Việt Nam phải chi hơn 1 tỷ USD/năm để nhập khẩu sữa và các sản phẩm từ sữa, chủ yếu là sữa bột.

Việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu không chỉ gây áp lực lên cán cân thương mại và hao tổn ngoại tệ, mà còn làm chậm tiến trình mở rộng đàn bò sữa trong nước, hạn chế sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa và ảnh hưởng trực tiếp đến chủ trương phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

Để giải quyết bài toán này, Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt ra các chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể cho từng giai đoạn.

Đến năm 2030, ngành sữa phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân từ 12- 14,0%/năm, sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 4.200 triệu lít/năm. Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước mục tiêu đạt khoảng 2.600 triệu lít/năm, nâng tỷ lệ đáp ứng nhu cầu chế biến nội địa lên mức 60-65%.

Đặc biệt, đối với phân khúc sữa bột, tốc độ tăng trưởng kỳ vọng đạt từ 7-8%/năm với sản lượng khoảng 245.000 tấn/năm, hướng tới nâng mức tiêu thụ bình quân của người dân lên khoảng 40 lít/người/năm.

Bước sang giai đoạn đến năm 2045, tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành dự kiến duy trì ở mức 5-6%/năm. Mục tiêu sản lượng sữa lỏng chế biến tăng lên khoảng 9.700 triệu lít/năm; trong đó, sữa tươi nguyên liệu đạt khoảng 8.000 triệu lít/năm, đảm bảo tự chủ từ 80-85% nhu cầu chế biến trong nước. Sản lượng sữa bột dự kiến đạt khoảng 415.000 tấn/năm và mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người phấn đấu đạt khoảng 100 lít/người/năm.

Dưới góc nhìn chuyên môn, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam nhận định mục tiêu đến năm 2045 sản lượng sữa bình quân đầu người của người Việt đạt trên 100kg; trong đó, sữa tươi trong nước chiếm trên 60% là hoàn toàn khả thi.

Đại diện Hội Chăn nuôi Việt Nam nhấn mạnh việc thúc đẩy dịch chuyển từ sử dụng sữa hoàn nguyên sang sữa tươi sạch là lựa chọn vì tầm vóc dân tộc và nền nông nghiệp tự chủ, mang lại lợi ích tổng hợp tối đa cho sức khỏe cộng đồng và người nông dân.

Dây chuyền sản xuất sữa MILO. (Nguồn: Vietnam+).

Bên cạnh đó, để hiện thực hóa việc khai thác thị trường nội địa, phát triển vùng nguyên liệu là nhiệm vụ then chốt. Ngành sữa định hướng xây dựng các trang trại bò sữa quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao kết hợp với các hợp tác xã và nông hộ nhằm tăng nhanh sản lượng sữa thô, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu.

Đánh giá từ thực tiễn sản xuất, ông Ngô Minh Hải, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn TH khẳng định Việt Nam có đủ điều kiện để tự chủ hoàn toàn nguồn nguyên liệu sữa tươi trong nước và điều này cần được xác định là ưu tiên quốc gia.

Đại diện Tập đoàn TH đưa ra hai kịch bản phát triển tổng đàn để đáp ứng khoảng 70% nhu cầu nội địa vào năm 2035. Nếu phát triển theo mô hình nuôi tập trung công nghệ cao với năng suất trung bình 35 lít/con/ngày, Việt Nam cần quy mô đàn khoảng 700.000 con bò sữa.

Ngược lại, nếu chăn nuôi vẫn dựa vào mô hình nông hộ truyền thống với năng suất thấp hơn, tổng đàn cần tăng lên khoảng 1,2 triệu con để bù đắp khoảng cách về sản lượng. Việc tăng trưởng đàn bò sữa là điều kiện tiên quyết để tạo sự đột phá cho chiến lược tự chủ nguyên liệu.

Song song với việc tăng sản lượng, các doanh nghiệp phải bám sát thị trường để đa dạng hóa sản phẩm, tập trung vào các dòng sữa có giá trị gia tăng cao và phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng chuyên biệt.

Bà Bùi Thị Thu Hoài, Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển Vinamilk cho biết doanh nghiệp cần nhạy bén nắm bắt xu hướng tiêu dùng từ các sản phẩm lành mạnh, tốt cho sức khỏe đến các sản phẩm thân thiện với môi trường.

Đồng thời, doanh nghiệp tiên phong sử dụng công nghệ phân tích dữ liệu và nghiên cứu thị trường để dự báo, định hướng nhu cầu tiêu dùng mới, góp phần định hình lối sống lành mạnh trong cộng đồng.

Đặc biệt, việc tận dụng tốt Chương trình Sữa học đường và Dinh dưỡng học đường dành cho khoảng 13,8 triệu trẻ em lứa tuổi mẫu giáo và tiểu học sẽ tạo ra một kênh tiêu thụ nội địa khổng lồ bền vững.

Để kích cầu tiêu dùng nội địa, các chuyên gia và doanh nghiệp đã kiến nghị nhiều chính sách đột phá. Về tài chính, đại diện Tập đoàn TH đề xuất áp dụng thuế VAT 0% cho sữa tươi nguyên liệu tiêu thụ nội địa cùng các chính sách trợ giá đầu tư tài sản cố định, ưu đãi lãi suất vay và hỗ trợ con giống cho chăn nuôi công nghệ cao.

Về đất đai, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích tích tụ ruộng đất, chuyển đổi các nông lâm trường hoạt động kém hiệu quả thành vùng chăn nuôi tập trung, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư chuỗi giá trị khép kín từ đồng cỏ đến nhà máy chế biến.

Việc thúc đẩy dịch chuyển sử dụng nguyên liệu từ sữa hoàn nguyên sang sữa tươi sạch, kết hợp giữa định hướng chính sách rõ ràng và sự chủ động của doanh nghiệp, chính là chìa khóa để ngành sữa Việt Nam khai thác trọn vẹn dư địa tăng trưởng to lớn của thị trường nội địa trong những thập kỷ tới.

Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/nganh-sua-viet-nam-con-nhieu-du-dia-tang-truong-tu-thi-truong-noi-dia-2026531201227106.htm

In bài biết

Bản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/