Tuy nhiên, khi tín dụng ngân hàng ngày càng chịu áp lực về quy mô và cơ cấu nguồn vốn, việc mở rộng các kênh huy động vốn ngoài ngân hàng được xem là giải pháp căn cơ để doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực tài chính bền vững hơn.
Khách hàng giao dịch tại hội sở chính Vietcombank, 198 Trần Quang Khải, Hà Nội. Ảnh: Trần Việt - TTXVN
Trong hành trình mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ hay tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, vốn luôn là "điểm nghẽn" đối với không ít doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dù mặt bằng lãi suất đã giảm và tín dụng tiếp tục được mở rộng, cánh cửa tiếp cận vốn vẫn chưa thực sự rộng mở với nhiều doanh nghiệp.
Theo ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), chủ trương giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp là rất đúng, song trên thực tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp nhiều rào cản khi tiếp cận vốn vay.
"Thủ tướng yêu cầu hạ lãi suất để doanh nghiệp nhỏ và vừa vay, chủ trương rất đúng. Thống đốc cũng yêu cầu các ngân hàng lớn và các ngân hàng thương mại cổ phần tăng cho vay. Nhưng hàng rào kỹ thuật khiến họ không cho vay bởi cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa thì rủi ro, phức tạp và lợi nhuận thấp vì lãi suất phải giảm. Kết quả là chính sách càng ưu tiên thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại càng khó tiếp cận vốn, trong khi vốn lại tập trung vào doanh nghiệp lớn", ông Nguyễn Văn Thân nhận định.
Theo ông, điều doanh nghiệp cần không chỉ là những khoản vay với lãi suất hợp lý mà còn là một hệ thống tài chính đa dạng hơn, nơi doanh nghiệp có nhiều lựa chọn để huy động vốn phù hợp với từng giai đoạn phát triển, thay vì phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tín dụng ngân hàng.
Những khó khăn trong tiếp cận vốn của doanh nghiệp cũng cho thấy một thực tế là khi nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao hơn, hệ thống tài chính không thể tiếp tục chỉ dựa vào một kênh dẫn vốn duy nhất.
Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia, để đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% trong giai đoạn 2026-2030, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội ước tính lên tới khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, trong đó khu vực kinh tế tư nhân cần đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng, tương đương gần 65% tổng nhu cầu vốn đầu tư. Với quy mô nguồn lực như vậy, việc tiếp tục đặt gánh nặng cung ứng vốn lên hệ thống ngân hàng sẽ ngày càng khó khả thi.
TS. Cấn Văn Lực nhận định Việt Nam cần từng bước xây dựng một hệ sinh thái tài chính đa tầng, trong đó tín dụng ngân hàng, thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bảo hiểm, các quỹ đầu tư và những định chế tài chính mới cùng phát huy vai trò. Chỉ khi các kênh dẫn vốn phát triển đồng bộ, dòng vốn mới có thể được phân bổ hiệu quả hơn tới khu vực sản xuất, kinh doanh, vừa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao, vừa giảm rủi ro cho hệ thống tài chính.
Đây cũng là bối cảnh Chính phủ ban hành Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045. Đề án xác định từng bước tái cấu trúc thị trường tài chính theo hướng cân bằng hơn, trong đó thị trường chứng khoán giữ vai trò trọng yếu trong huy động vốn trung và dài hạn; hệ thống ngân hàng phát triển an toàn, hiện đại; đồng thời phát triển thị trường bảo hiểm và các định chế tài chính khác để cùng chia sẻ vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Nếu phần lớn doanh nghiệp hiện nay vẫn xem tín dụng ngân hàng là "cánh cửa" gần như duy nhất để tiếp cận vốn, thì theo các chuyên gia, đã đến lúc Việt Nam cần xây dựng một hệ thống tài chính đa tầng, trong đó thị trường vốn, các định chế tài chính và dòng vốn quốc tế cùng chia sẻ vai trò cung ứng nguồn lực cho nền kinh tế.
Theo TS. Cấn Văn Lực, bên cạnh việc duy trì vai trò của hệ thống ngân hàng, Việt Nam cần đẩy nhanh phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp theo hướng minh bạch và bền vững; đồng thời mở rộng các định chế đầu tư dài hạn như quỹ hưu trí, quỹ đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tín thác bất động sản, cũng như phát triển tài chính xanh, tài chính số và thị trường carbon. Đây sẽ là những kênh cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn quan trọng, góp phần giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng - nơi nguồn vốn huy động chủ yếu vẫn là ngắn hạn nhưng phải đáp ứng nhu cầu vay vốn đầu tư có kỳ hạn dài của doanh nghiệp.
Ở góc độ doanh nghiệp, một "đường dẫn vốn" khác cũng được kỳ vọng sẽ tạo ra bước chuyển về chất là hệ thống xếp hạng tín nhiệm. Ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) cho rằng, khi doanh nghiệp được đánh giá dựa trên uy tín, năng lực tài chính và hiệu quả hoạt động thay vì chủ yếu dựa vào tài sản bảo đảm, cơ hội tiếp cận vốn sẽ rộng mở hơn.
Theo ông Trần Hoài Phương, nếu hệ thống xếp hạng tín nhiệm được phát triển đồng bộ và được thị trường công nhận, các ngân hàng sẽ có thêm cơ sở để đa dạng hóa phương thức cấp tín dụng, giảm dần sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí vốn mà còn tạo động lực nâng cao tính minh bạch, chuẩn hóa quản trị và năng lực tài chính - những yếu tố ngày càng trở thành "tấm hộ chiếu" để doanh nghiệp tiếp cận cả nguồn vốn trong nước lẫn quốc tế.
Không chỉ mở rộng các kênh huy động vốn trong nước, Việt Nam cũng đang hướng tới thu hút mạnh hơn dòng vốn toàn cầu thông qua việc xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế. Theo PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, Giảng viên Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, nếu được thiết kế và vận hành hiệu quả, Trung tâm Tài chính quốc tế có thể huy động khoảng 10-30 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030, tương đương khoảng 3-10% tổng nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế.
Tuy nhiên, PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân đánh giá điều quan trọng không nằm ở quy mô vốn thu hút được mà ở khả năng phân bổ dòng vốn đến đúng những lĩnh vực tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao. "Trung tâm tài chính không chỉ là nơi thu hút vốn mà còn phải là nơi phân bổ vốn hiệu quả vào những lĩnh vực như hạ tầng, logistics, công nghệ, năng lượng và chuyển đổi xanh", ông Huân nhấn mạnh.
Để làm được điều đó, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao tính minh bạch của thị trường, chuẩn hóa các dự án đầu tư và xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp theo thông lệ quốc tế. Khi đó, Trung tâm Tài chính quốc tế sẽ không chỉ là điểm đến của dòng vốn mà còn trở thành cầu nối giữa các nhà đầu tư toàn cầu với các dự án chất lượng của Việt Nam.
Định hướng này cũng được phản ánh rõ trong Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam. Theo đó, đến năm 2030, giá trị tài sản đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường vốn và thị trường chứng khoán được đặt mục tiêu đạt khoảng 15% GDP, trong khi tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ đầu tư chứng khoán đạt khoảng 5% GDP. Cùng với việc phát triển thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bảo hiểm và các quỹ đầu tư, Trung tâm Tài chính quốc tế được kỳ vọng trở thành cấu phần quan trọng trong việc kết nối dòng vốn, dịch vụ tài chính và các định chế tài chính khu vực, qua đó từng bước hình thành một cấu trúc thị trường tài chính cân bằng hơn, giảm sự phụ thuộc vào kênh tín dụng truyền thống.
Về phía Ngân hàng Nhà nước, cơ quan này sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ và tín dụng theo hướng chủ động, linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Trọng tâm là ưu tiên dòng vốn cho sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng và các dự án trọng điểm, đồng thời bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng. Đây là khẳng định được bà Hà Thu Giang, Nguyên Vụ trưởng Vụ Tín dụng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) đưa ra tại Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức mới đây.
Song song với đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế về hoạt động tín dụng, duy trì chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận vốn, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành xử lý những điểm nghẽn của thị trường tài chính. Định hướng này cho thấy, tín dụng ngân hàng vẫn sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, nhưng sẽ từng bước chia sẻ vai trò cung ứng vốn với thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bảo hiểm và các định chế tài chính khác.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/mo-them-duong-dan-von-cho-doanh-nghiep-202682204847429.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/