Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bắt đầu nhích lên trong tháng 12/2025 và tăng tốc rõ rệt trong những tháng đầu năm 2026 kéo theo lo ngại của doanh nghiệp về chi phí vốn tăng cao.
Theo số liệu mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố, trong tháng 1, mặt bằng lãi suất huy động tăng kéo theo mặt bằng lãi suất cho vay cũng nhích lên. Cụ thể, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 7,0 - 9,3%/năm.
Song trên thực tế, một số doanh nghiệp đang phải tiếp cận vốn với mức lãi suất cao hơn, cá biệt có trường hợp lên tới 12-14%. Với các lĩnh vực ưu tiên như doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu được hưởng lãi suất thấp hơn những cũng dao động trong khoảng 7 - 9%.
Thường xuyên vay vốn ngân hàng để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh như mua nguyên vật liệu, dự trữ hàng hóa, ông Lại Hoàng Dương, Giám đốc Công ty Máy tính Thánh Gióng, cho biết trước Tết Nguyên đán, lãi suất vay phục vụ sản xuất của doanh nghiệp dao động khoảng 6,8–7,2%/năm.
Tuy nhiên, sau Tết, các ngân hàng đã gửi thông báo điều chỉnh tăng lãi suất đối với các khoản vay mới, với mức tăng khoảng 0,3 - 0,4%, đưa lãi suất lên khoảng 7,1 - 7,6%.
Với mức tăng lãi suất như hiện nay, tác động đến kế hoạch đầu tư hay mở rộng sản xuất của doanh nghiệp vẫn chưa quá lớn. Tuy nhiên, một số ngân hàng cũng cho biết lãi suất trung hạn có thể tiếp tục tăng trong thời gian tới, lên khoảng 8,1–8,5% sau khi kết thúc quý I hoặc vào giữa quý II.
“Chúng tôi hy vọng mức tăng lãi suất sẽ chỉ dừng lại ở mức như thông báo hiện nay. Nếu lãi suất tăng cao hơn nữa thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh”, ông Dương quan ngại.
Ông Lại Hoàng Dương, Giám đốc Công ty Máy tính Thánh Gióng. (Ảnh: Nguyễn Ngọc)
Ghi nhận từ nhiều hội viên của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HANOISME), ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch cho biết xu hướng lãi suất tăng khiến không ít doanh nghiệp trở nên thận trọng hơn khi quyết định vay vốn mới. Một số doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất, xây dựng, thương mại và xuất nhập khẩu phản ánh chi phí tài chính gia tăng đang làm thu hẹp biên lợi nhuận vốn đã khá mỏng.
Trong bối cảnh chi phí đầu vào như nguyên vật liệu, logistics và nhân công vẫn chịu nhiều áp lực, việc lãi suất tăng thêm dù chỉ 0,5–1 điểm % cũng có thể khiến tổng chi phí hoạt động của doanh nghiệp tăng đáng kể.
Trước tình hình này, nhiều doanh nghiệp đang có xu hướng điều chỉnh kế hoạch tài chính và đầu tư. Một số doanh nghiệp thu hẹp quy mô vay mới, chỉ tập trung vào các khoản vay cần thiết để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh hiện hữu, thay vì mở rộng đầu tư như giai đoạn lãi suất thấp trước đây.
Không ít doanh nghiệp cũng đang trì hoãn hoặc giãn tiến độ các dự án đầu tư trung và dài hạn, đặc biệt là các dự án mở rộng nhà xưởng, đổi mới công nghệ hoặc phát triển sản phẩm mới nhằm giảm thiểu rủi ro tài chính.
Về dài hạn, nếu xu hướng này kéo dài có thể tạo ra những tác động lan tỏa đến tốc độ phục hồi và tăng trưởng của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân vốn được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế.
“Khi chi phí vốn tăng, khả năng đầu tư, đổi mới sáng tạo và mở rộng sản xuất của doanh nghiệp sẽ bị hạn chế phần nào, từ đó có thể ảnh hưởng đến tốc độ tạo việc làm, năng suất lao động cũng như đóng góp ngân sách của khu vực doanh nghiệp”, ông Mạc Quốc Anh quan ngại.
Cũng theo ông Mạc Quốc Anh, vấn đề không phải là duy trì lãi suất ở mức thấp bằng mọi giá, mà là thiết kế các cơ chế và công cụ chính sách phù hợp nhằm giảm bớt áp lực chi phí vốn cho khu vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trước hết, cơ quan điều hành tiền tệ cần tiếp tục duy trì sự ổn định và tính dự báo của chính sách lãi suất, hạn chế những biến động quá đột ngột có thể gây tâm lý bất ổn cho thị trường và doanh nghiệp. Việc điều hành linh hoạt các công cụ như tái cấp vốn, thị trường mở hay hạn mức tín dụng cần hướng tới ưu tiên dòng vốn cho các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo và doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa như quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như các chương trình cho vay ưu đãi thông qua hệ thống ngân hàng thương mại.
Trong nhiều trường hợp, khó khăn của doanh nghiệp không chỉ nằm ở lãi suất mà còn ở khả năng tiếp cận vốn do thiếu tài sản bảo đảm hoặc hồ sơ tài chính chưa đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, việc tăng cường các cơ chế bảo lãnh tín dụng và chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp sẽ góp phần cải thiện khả năng tiếp cận vốn của khu vực này.
Về dài hạn, cần thúc đẩy phát triển các kênh huy động vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp ngoài hệ thống ngân hàng, như thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch và bền vững, cũng như các quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ đầu tư tư nhân. Khi hệ sinh thái thị trường vốn phát triển cân bằng hơn, doanh nghiệp sẽ giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, qua đó hạn chế áp lực khi mặt bằng lãi suất biến động.
“Nếu chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt, hệ thống tài chính phát triển cân bằng và doanh nghiệp chủ động nâng cao năng lực nội tại, thách thức này có thể trở thành động lực để tái cấu trúc hoạt động sản xuất kinh doanh theo hướng bền vững và hiệu quả hơn trong thời gian tới”, ông Quốc Anh nhấn mạnh.
Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội. (Ảnh: Nguyễn Ngọc)
Ở góc độ doanh nghiệp, theo ông Lại Hoàng Dương, các doanh nghiệp sản xuất luôn phải chủ động nguồn vốn và có kế hoạch dự phòng tài chính để bảo đảm hoạt động ổn định. Nguyên tắc chung của nhiều doanh nghiệp là phải duy trì nguồn vốn an toàn đủ để vận hành trong ít nhất 3–6 tháng, bao gồm chi phí mua nguyên vật liệu, duy trì sản xuất và vận hành doanh nghiệp.
Đặc biệt, trong bối cảnh xung đột Trung Đông diễn ra căng thẳng, giá các sản phẩm chip nhớ đang tăng khá mạnh, đặc biệt là RAM của máy tính. Vì vậy, doanh nghiệp nào có khả năng dự trữ hàng hóa hoặc duy trì lượng tồn kho ổn định trong khoảng 6 tháng sẽ có lợi thế lớn trên thị trường.
Ngược lại, nếu không có lượng hàng dự trữ, doanh nghiệp sẽ phải nhập hàng với giá cao hơn, khiến giá thành sản phẩm tăng lên và giảm khả năng cạnh tranh. Do đó, doanh nghiệp đang ưu tiên sử dụng nguồn vốn vay để tăng dự trữ hàng hóa, bảo đảm ổn định sản xuất và thị trường tiêu thụ trong thời gian tới.
“Doanh nghiệp kỳ vọng Nhà nước sẽ có chính sách tín dụng riêng cho khu vực sản xuất, nhằm bảo đảm lãi suất cho doanh nghiệp sản xuất không vượt quá 10%”, ông Dương nêu rõ.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/lai-suat-cho-vay-tang-ngay-sau-tet-doanh-nghiep-san-xuat-lo-kho-khan-hon-202636132438718.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/