'IFC có thể huy động 10 - 30 tỷ USD mỗi năm từ nhà đầu tư quốc tế'

Theo chuyên gia Nguyễn Hữu Huân, nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến VIFC - HCMC, hiện đã có hơn 100 định chế tài chính quốc tế và nhiều tập đoàn lớn từ Mỹ bày tỏ mong muốn gia nhập Trung tâm này.

Theo ước tính của Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2030 cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng (tương đương 1.464 tỷ USD). Trong đó, khu vực Nhà nước dự kiến đóng góp khoảng 8,5 triệu tỷ đồng; phần còn lại, xấp xỉ 30 triệu tỷ đồng, phải đến từ thị trường tài chính trong nước và quốc tế, FDI, doanh nghiệp, hộ gia đình,..

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước, rất khó có thể đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế. Những dự án hạ tầng với quy mô vốn khổng lồ đầu tư theo phương thức PPP thì tư nhân cũng chỉ có một phần vốn tự có, còn lại vẫn phải dựa vào việc vay vốn ngân hàng làm trầm trọng thêm tính phụ thuộc vào dòng vốn tín dụng.

Giải pháp quan trọng là phải đa dạng kênh dẫn vốn, trong đó các nguồn vốn từ nước ngoài nên được ưu tiên khơi thông hết mức để tạo sự đột phá cho phát triển hạ tầng lâu dài.

IFC có thể huy động 10 - 30 tỷ USD

PGS TS. Nguyễn Hữu Huân, Giảng viên Đại học Kinh tế TP HCM, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế TP HCM. (Ảnh: BTC).

Bàn về câu chuyện huy động dòng vốn ngoại tại Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức sáng 23/7, PGS TS. Nguyễn Hữu Huân, Giảng viên Đại học Kinh tế TP HCM, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế TP HCM (IFC-HCM) cho rằng Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP HCM có thể hướng tới huy động khoảng 10 - 30 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2026 - 2030, tương đương 3 - 10% tổng nhu cầu vốn.

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên, Trung tâm phải trở thành cửa ngõ đưa vốn quốc tế vào nền kinh tế thực, thay vì chỉ là nơi đăng ký hoạt động của các định chế tài chính hoặc cung cấp những chính sách ưu đãi.

Trong đó, lợi thế khác biệt của Việt Nam là một nền kinh tế thực đang tăng trưởng nhanh, với nhu cầu đầu tư lớn vào sản xuất, hạ tầng, năng lượng và công nghệ.

"Nếu kết nối được hoạt động quản lý tài sản với nhu cầu vốn của doanh nghiệp và các dự án trong nước, Việt Nam có thể tạo ra nguồn 'hàng hóa đầu tư' hấp dẫn đối với các quỹ quốc tế", chuyên gia cho hay.

Cũng theo vị này, các lĩnh vực có thể trở thành "hàng hoá đầu tư hấp dẫn" là hạ tầng, logistics, năng lượng, công nghệ, đô thị, dữ liệu và chuyển đổi xanh.

Vì vậy, Trung tâm Tài chính quốc tế phải tham gia vào quá trình cấu trúc giao dịch, định giá rủi ro, chuẩn hóa hồ sơ và kết nối các dự án trong nước với nhà đầu tư quốc tế.

Hai thị trường ngách được ông Huân đặc biệt lưu ý là tài chính hàng hải và tài chính hàng không.

Khu vực phía Nam có hệ thống cảng biển lớn như Cái Mép - Thị Vải và dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ. Tuy nhiên, nhiều dịch vụ tài chính phục vụ vận tải biển của doanh nghiệp Việt Nam, như tài trợ tàu, bảo hiểm, thanh toán và quản trị rủi ro, vẫn được thực hiện tại nước ngoài, chủ yếu ở Singapore.

Đây là khoảng trống TP HCM có thể khai thác bằng cách kết nối doanh nghiệp cảng biển, logistics, hãng tàu, ngân hàng, bảo hiểm và nhà đầu tư, từng bước hình thành hệ sinh thái tài chính hàng hải có giá trị gia tăng cao.

Trong lĩnh vực hàng không, Trung tâm có thể phát triển các hoạt động tài trợ mua và thuê máy bay, bảo hiểm, quản lý tài sản hàng không, phát hành trái phiếu và các sản phẩm tài chính phục vụ doanh nghiệp trong ngành.

Tài chính xanh cũng cần trở thành một trụ cột khi Việt Nam cần nguồn vốn lớn cho chuyển đổi năng lượng, hạ tầng xanh và mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Các sản phẩm có thể phát triển gồm trái phiếu xanh, quỹ đầu tư hạ tầng, tài chính carbon và những công cụ chia sẻ rủi ro cho dự án chuyển đổi.

Cần những dự án đủ hấp dẫn và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế

PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, nhấn mạnh nhà đầu tư không thiếu nhưng Việt Nam lại đang thiếu những dự án đủ hấp dẫn và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

Một dự án muốn huy động được vốn phải có cấu trúc tài chính rõ ràng, dòng tiền có thể dự báo, cơ chế phân bổ rủi ro hợp lý, hồ sơ minh bạch và năng lực báo cáo theo chuẩn quốc tế. Vì vậy, Trung tâm cần xây dựng danh mục dự án có khả năng đầu tư, đồng thời hỗ trợ cấu trúc giao dịch, định giá rủi ro và kết nối với những nhà đầu tư có khẩu vị phù hợp.

Thông tin về Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP HCM (VIFC - HCMC), ông Huân cho biết, trung tâm đang trong giai đoạn chuẩn bị đi vào hoạt động. Khung pháp lý cho VIFC - HCMC đã được hình thành với nghị quyết và 8 nghị định liên quan. Tuy nhiên, để triển khai trong thực tế, vẫn cần thêm các thông tư của bộ, ngành và văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành các nghị định.

Trung tâm đang phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan để hoàn thiện các quy định cụ thể, chẳng hạn như điều kiện, thủ tục thành lập quỹ đầu tư, các định chế quản lý quỹ, ngân hàng và những tổ chức tài chính khác hoạt động trong Trung tâm.

"Chúng tôi đang chờ Hội đồng Điều hành thông qua quy chế hoạt động và kỳ vọng Trung tâm có thể chính thức vận hành ngay trong tháng này", vị chuyên gia này cho biết.

Về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox), vị này cho hay khung pháp lý áp dụng tại TP HCM và Đà Nẵng đã cơ bản hoàn thiện. Sau khi quy chế được ban hành, hai thành phố sẽ thí điểm các sản phẩm, dịch vụ tài chính mới.

Thông tin tích cực là hiện đã có hơn 100 định chế tài chính quốc tế và nhiều tập đoàn lớn từ Mỹ bày tỏ mong muốn gia nhập Trung tâm. Trong chuyến xúc tiến đầu tư tại Mỹ vừa qua, nhiều tập đoàn lớn của Mỹ cũng bày tỏ sự quan tâm và mong muốn tham gia Trung tâm trong thời gian tới.

"Ngay sau khi quy chế hoạt động được thông qua, Trung tâm sẽ mở cổng đăng ký để các định chế tài chính nộp hồ sơ tham gia", ông Huân thông tin.

Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/ifc-co-the-huy-dong-10-30-ty-usd-moi-nam-tu-nha-dau-tu-quoc-te-2026723183220903.htm

In bài biết

Bản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/