Theo báo cáo của ICO, trong tháng 11/2025, xuất khẩu cà phê toàn cầu đạt 10,5 triệu bao loại 60 kg, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2024.
Lũy kế trong 2 tháng đầu niên vụ cà phê 2025-2026 (từ tháng 10/2025 đến tháng 11/2025), xuất khẩu cà phê toàn cầu đạt 21,6 triệu bao, tăng 1,8% so với 21,2 triệu bao của cùng kỳ niên vụ 2024-2025.
Trong đó, xuất khẩu cà phê nhân xanh trong tháng 11 ghi nhận mức tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, lên gần 9 triệu bao, chủ yếu nhờ sự gia tăng mạnh trong thương mại cà phê robusta.
Xuất khẩu cà phê robusta đã tăng tới 28%, lên 3,2 triệu bao. Được thúc đẩy chủ yếu bởi Việt Nam, quốc gia sản xuất robusta lớn nhất thế giới, với lượng xuất khẩu tăng 93%, đạt 1,5 triệu bao.
Indonesia và Uganda cũng góp phần quan trọng vào đà tăng chung, với mức tăng lần lượt 27% và 75,5% đối với loại cà phê được sử dụng rộng rãi trong sản xuất cà phê hòa tan và các dòng espresso blend.
Những sự gia tăng kể trên bù đắp cho sự sụt giảm mạnh 65,3% trong xuất khẩu robusta của Brazil, xuống còn 0,2 triệu bao.
Đối với Việt Nam và Brazil, các biến động mạnh từ đầu niên vụ trước đến nay phản ánh sự quay trở lại trạng thái bình thường của thị trường, do nguồn cung từ Việt Nam đang phục hồi sau giai đoạn suy giảm, trong khi Brazil giảm từ mức xuất khẩu cao bất thường của niên vụ 2023-2024, khi nước này bù đắp sự thiếu hụt robusta toàn cầu do nguồn cung từ Indonesia và Việt Nam suy yếu.
Trước đó, Brazil đã xuất khẩu 9,4 triệu bao robusta trong niên vụ 2023-2024, cao hơn nhiều so với mức trung bình 5 năm là 3,5 triệu bao.
Còn với Uganda, xuất khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng kể từ giữa niên vụ 2023-2024. Khối lượng xuất khẩu của Uganda đạt mức kỷ lục 7,3 triệu bao trong năm 2024-2025 nhờ sản lượng tăng, giá quốc tế cao và hoạt động giải phóng tồn kho. Uganda đã đặt mục tiêu sản xuất 20 triệu bao vào năm 2030.
Trong khi đó, xuất khẩu cà phê arabica khác cũng tăng mạnh 28,8% trong tháng 11, lên 1,2 triệu bao. Peru là động lực chính cho mức tăng hai chữ số này, với lượng xuất khẩu tăng 55,1%, lên 0,6 triệu bao. Mức tăng chủ yếu phản ánh chu kỳ sản xuất hai năm một lần của Peru, trong đó niên vụ hiện tại rơi vào “năm được mùa”.
Xuất khẩu cà phê nhân xanh toàn cầu trong 2 tháng đầu niên vụ 2025-2026 (tháng 10 đến tháng 11)
Nguồn: ICO
Trái lại, lượng xuất khẩu dòng nhóm arabica Colombia giảm 0,9% xuống còn hơn 1,2 triệu bao. Đây là lần đầu tiên nhóm ghi nhận tăng trưởng âm sau 26 tháng, do mức tăng nhẹ của Colombia không đủ bù đắp sự giảm mạnh tại Kenya và Tanzania.
Tương tự, xuất khẩu cà phê nhóm arabica Brazil giảm 14,7% trong tháng 11, còn 3,25 triệu bao. Đánh dấu tháng sụt giảm thứ chín liên tiếp, chủ yếu do xuất khẩu của Brazil giảm 18,4%, xuống 2,7 triệu bao. Giai đoạn 2020-2021–2024-2025, Brazil chiếm trung bình 85,3% lượng xuất khẩu của nhóm, khiến nước này trở thành yếu tố quyết định xu hướng chung.
ICO cho biết nguyên nhân của sự sụt giảm mạnh trong xuất khẩu của Brazil là do nguồn cung trong nước giảm và tác động của mức thuế nhập khẩu của Mỹ, vốn chỉ được bãi bỏ vào giữa tháng 11.
Tổng xuất khẩu arabica toàn cầu giảm xuống 5,7 triệu bao trong tháng 11, thấp hơn 4,9% so với mức 6 triệu bao của cùng kỳ năm 2024. Do đó, tỷ trọng arabica trong tổng xuất khẩu cà phê nhân xanh toàn cầu trong 2 tháng đầu niên vụ 2025-2026 giảm xuống còn 66,7%, từ mức 70,3% của cùng kỳ niên vụ trước.
Ở các chủng loại khác, xuất khẩu cà phê hòa tan giảm nhẹ 0,6% trong tháng 11, xuống còn 1,5 triệu bao. Brazil, Indonesia và Việt Nam là các nước xuất khẩu cà phê hòa tan lớn nhất, lần lượt đạt 0,27 triệu bao, 0,3 triệu bao và 0,4 triệu bao.
Xuất khẩu cà phê đã rang cũng giảm 28,7%, xuống còn 0,04 triệu bao trong tháng 11 năm ngoái.
Cà phê nhân xanh tiếp tục là cà phê được xuất khẩu nhiều nhất, chiếm 85,9% tổng lượng xuất khẩu trong 2 tháng đầu của niên vụ 2025-2026, trong khi cà phê hòa tan và cà phê rang lần lượt chiếm 13,7% và 0,4%.
Cơ cấu chủng loại cà phê xuất khẩu toàn cầu trong 2 tháng đầu niên vụ 2025-2026
Nguồn: ICO
Thống kê của ICO cho thấy, ba trong bốn khu vực chính ghi nhận tăng trưởng xuất khẩu, chỉ có Nam Mỹ là khu vực duy nhất sụt giảm.
Trong tháng 11, xuất khẩu cà phê của khu vực châu Á và châu Đại Dương đạt 3,6 triệu bao, tăng 47% so với cùng kỳ năm 2024. Mức tăng trưởng hai chữ số của khu vực chủ yếu được dẫn dắt bởi Việt Nam, với xuất khẩu tăng 60,1%, đạt hơn 1,9 triệu bao.
Trước đó, Việt Nam từng đối mặt với vụ thu hoạch kém trong niên vụ 2023–2024 khiến xuất khẩu giảm còn 25,1 triệu bao, nguồn cung trong nước xuống mức thấp kỷ lục và tồn kho gần như cạn kiệt. Tình hình chỉ bắt đầu cải thiện khi nguồn cung từ vụ thu hoạch mới 2024–2025 được đưa vào thị trường từ tháng 12/2024.
Do đó, mức tăng mạnh trong tháng 11/2025 phần lớn phản ánh “hiệu ứng nền thấp”, khi xuất khẩu tháng 11/2024 chỉ đạt 1,2 triệu bao – thấp hơn đáng kể so với mức trung bình 1,9 triệu bao trong tháng 11 của giai đoạn 2019–2023.
Indonesia cũng góp phần lớn vào tăng trưởng của khu vực, với xuất khẩu tháng 11 tăng 39% lên 1,1 triệu bao.
Trong 2 tháng đầu niên vụ 2025-2026, tổng xuất khẩu cà phê của khu vực châu Á và châu Đại Dương đã tăng 24,6%, đạt 10,2 triệu bao, tương đối phù hợp với mức tăng 22,5% của niên vụ 2024–2025.
Xuất khẩu cà phê tháng 11 từ khu vực châu Phi cũng tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2024, đạt 1,4 triệu bao. Sự tăng trưởng của khu vực chủ yếu đến từ Uganda, với xuất khẩu tăng 72% lên 0,7 triệu bao. Xuất khẩu của Uganda đã ghi nhận đà tăng mạnh kể từ giữa niên vụ 2023-2024, lần đầu tiên vượt mốc 7–8 triệu bao và đạt 8,3 triệu bao trong niên vụ 2024–2025.
Tuy nhiên, tăng trưởng của khu vực bị kìm hãm phần nào bởi xuất khẩu của Ethiopia giảm 14,8%, trái ngược với xu hướng tăng trưởng mạnh trước đó. Trong niên vụ 2024–2025, Ethiopia đạt mức xuất khẩu 7,4 triệu bao – lần đầu tiên vượt mốc 6–7 triệu bao – nhờ sản lượng ước đạt 9,9 triệu bao và giá cà phê quốc tế tăng cao.
Xuất khẩu cà phê của các khu vực trong 2 tháng đầu niên vụ 2025-2026
Tại Trung Mỹ và Mexico, xuất khẩu cà phê tháng 11 của khu vực đã tăng 1,2% so với cùng kỳ, đạt 0,4 triệu bao. Lũy kế trong hai tháng đầu niên vụ 2025-2026, tổng xuất khẩu của khu vực giảm 10,4%, cho thấy nguy cơ suy giảm trong phần còn lại của năm.
Xuất khẩu của khu vực đã giảm liên tục kể từ niên vụ 2017–2018, từ mức đỉnh 17,9 triệu bao xuống còn 14,5 triệu bao trong niên vụ 2023–2024. Honduras và Nicaragua là hai quốc gia góp phần chính vào đà suy giảm này, phản ánh sự đi xuống của sản lượng, từ 21,5 triệu bao trong niên vụ 2017–2018 xuống còn khoảng 18,3 triệu bao trong niên vụ 2024–2025.
Trong khi đó, xuất khẩu cà phê các loại của khu vực Nam Mỹ chỉ đạt hơn 5 triệu bao trong tháng 11, giảm 14,9% so với cùng kỳ năm 2024. Đánh dấu tháng thứ 13 liên tiếp tăng trưởng âm của khu vực, sau chuỗi 16 tháng tăng trưởng dương trước đó.
Sự suy giảm chủ yếu đến từ Brazil, với xuất khẩu robusta giảm 25,8%, xuống còn 3,2 triệu bao do hiệu ứng nền cao trong niên vụ trước và sự phục hồi nguồn cung từ Indonesia và Việt Nam.
Xuất khẩu của Colombia tăng 1,7% trong tháng 11, sau mức tăng 1,3% vào tháng 10. Hai tháng liên tiếp tăng trưởng thấp đầu niên vụ 2025-2026, cùng với mức xuất khẩu gần kỷ lục của năm trước, cho thấy Colombia có thể đang tiến gần giới hạn sản lượng, dù điều này có thể thay đổi nếu có thêm các khoản đầu tư mới.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/ico-xuat-khau-ca-phe-toan-cau-gia-tang-viet-nam-cung-co-vi-the-so-mot-ve-robusta-202611683651502.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/