Những bất ổn địa chính trị tại Trung Đông và căng thẳng trên eo biển Hormuz đang gây rủi ro đến an ninh năng lượng toàn cầu. Trong bối cảnh đó, các nền kinh tế phụ thuộc nhập khẩu dầu, đặc biệt là ở Đông Nam Á, đứng trước nguy cơ bị gián đoạn nguồn cung bất cứ lúc nào.
Theo Báo cáo Năng lượng ASEAN 2026 (ASEAN Energy in 2026), ASEAN đang đối mặt với sự phụ thuộc ngày càng tăng vào dầu nhập khẩu (chiếm 66% vào năm 2024), trong đó hơn 90% dầu thô nhập khẩu đến từ bên ngoài khu vực, trong đó phần lớn đến từ Trung Đông, khu vực vốn thường xuyên chịu ảnh hưởng của xung đột, trừng phạt và bất ổn chính trị.
Chi phí nhập khẩu năng lượng của khu vực có thể vượt 200 tỷ USD mỗi năm vào giữa thế kỷ nếu không có các biện pháp tăng cường an ninh năng lượng.
Sự phụ thuộc ngày càng lớn vào nguồn cung từ bên ngoài khiến vấn đề dự trữ dầu trở thành tuyến phòng thủ cuối cùng trước các cú sốc năng lượng. Tuy nhiên, mức dự trữ của các nước ASEAN hiện nay vẫn thấp so với tiêu chuẩn quốc tế.
Theo thống kê của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), tính đến cuối tháng 1/2026, các nước thành viên IEA nắm giữ khoảng 1,2 tỷ thùng dầu dự trữ của chính phủ. Ngoài ra, còn có khoảng 600 triệu thùng dầu dự trữ của ngành công nghiệp.
Trong đó, Mỹ đứng đầu với 415 triệu thùng, tương đương 82 ngày tiêu thụ, Nhật Bản dự trữ 499,5 triệu thùng vào cuối năm 2025, tương đương 157 ngày tiêu thụ.
Đức có tổng mức dự trữ là 257,1 triệu thùng vào cuối năm 2025, đảm bảo khả năng cung ứng trong 126 ngày; Pháp nắm giữ tổng cộng 147,5 triệu thùng dự trữ vào cuối năm 2025, tương đương 100 ngày tiêu thụ. Italy dự trữ là 121,6 triệu thùng, tương đương 114 ngày tiêu thụ; Canada nắm giữ 200,3 triệu thùng dự trữ, tương đương 79 ngày tiêu thụ. Anh có mức dự trữ thấp nhất trong nhóm G7 với 68,4 triệu thùng.
Trong khi các nước thành viên IEA duy trì lượng dự trữ tương đương khoảng 90 ngày tiêu thụ thì tại nhiều nước ASEAN chỉ có khoảng 20–50 ngày, chủ yếu do doanh nghiệp nắm giữ.
Trong bối cảnh gián đoạn dòng chảy năng lượng qua eo biển Hormuz, IEA đã phải sử dụng lượng dự trữ này trong nhiều cú sốc năng lượng gần đây để ổn định thị trường, cho thấy vai trò quan trọng của kho dự trữ trong bảo vệ nền kinh tế.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Cường. (Ảnh: H.A).
Trao đổi với chúng tôi, chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Cường, cho rằng đối với Việt Nam, rủi ro năng lượng còn lớn hơn do vị trí địa lý phụ thuộc trực tiếp vào tuyến vận chuyển qua Biển Đông.
Các báo cáo năng lượng gần đây cho thấy Việt Nam đã chuyển từ nước xuất khẩu ròng sang nhập khẩu ròng sản phẩm dầu và khí, và mức phụ thuộc nhập khẩu dự kiến tiếp tục tăng khi nhu cầu điện, giao thông và công nghiệp tăng nhanh.
Trong bối cảnh đó, điều quan trọng là không chỉ mở rộng dự trữ dầu theo cách truyền thống mà còn áp dụng các mô hình hợp tác quốc tế để giảm chi phí và tăng hiệu quả. Ngoài việc mỗi quốc gia tự xây dựng kho dự trữ, còn có hai cơ chế được nhiều nước sử dụng: “ticket stockpiling” – thuê dự trữ ở nước khác – và “joint stockpiling” – dự trữ chung với các nước xuất khẩu dầu, đặc biệt là các nước Trung Đông.
Trong mô hình dự trữ chung, dầu thuộc sở hữu của nước xuất khẩu nhưng được lưu trữ tại quốc gia nhập khẩu, và nước nhập khẩu có quyền ưu tiên sử dụng khi xảy ra khủng hoảng. Điều này giúp giảm đáng kể chi phí mua dầu ban đầu, vốn là phần tốn kém nhất của việc xây dựng dự trữ.
Chuyên gia nhấn mạnh, xu hướng mở rộng kho dự trữ không chỉ diễn ra ở các nước OECD mà đang tăng nhanh tại châu Á, nơi nhu cầu nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới nhưng năng lực dự trữ còn hạn chế.
Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc đều đang mở rộng kho dự trữ chiến lược và tìm kiếm các địa điểm lưu trữ ở nước ngoài để đa dạng hóa rủi ro. Điều này mở ra cơ hội cho các quốc gia có vị trí thuận lợi về hàng hải phát triển dịch vụ lưu trữ dầu cho khu vực, tương tự vai trò của Singapore trong lĩnh vực trung chuyển nhiên liệu.
Thực tế cho thấy mô hình dự trữ chung hay thuê dự trữ này đã được áp dụng thành công ở nhiều nước châu Á. Nhật Bản có thỏa thuận dự trữ chung với Các tiểu Vương quốc Arab Thống Nhất (UAE) và Arab Saudi; Hàn Quốc ký thỏa thuận với Kuwait; Ấn Độ cũng hợp tác với UAE để lưu trữ dầu tại các kho trong nước.
"Phân tích chi phí – lợi ích trong nghiên cứu cho thấy việc mở rộng dự trữ dầu với Việt Nam là hoàn toàn khả thi về kinh tế", ông nói và cho biết nếu xây dựng dự trữ theo cách truyền thống, chi phí khoảng 8 USD mỗi thùng nhưng nếu kết hợp với cơ chế thuê hoặc dự trữ chung, chi phí có thể giảm xuống còn khoảng 4–6 USD mỗi thùng.
Trong khi đó, lợi ích kinh tế do tránh được suy giảm sản xuất khi xảy ra gián đoạn nguồn cung cao hơn nhiều. Tính toán cho thấy lợi ích trung bình khoảng 9 USD mỗi thùng ở Indonesia, 11 USD ở Philippines và lên tới hơn 30 USD mỗi thùng ở Việt Nam do sự thuận lợi từ các tuyến vận chuyển qua Biển Đông, chuyên gia Nguyễn Minh Cường dẫn số liệu ước tính từ ERIA.
Phân tích về lợi thế Việt Nam trong việc trở thành một trung tâm dự trữ dầu quy mô khu vực, chuyên gia cho rằng vị trí địa chiến lược của Việt Nam ở Biển Đông đem đến thuận lợi lớn, vượt trội so với những rủi ro tiềm ẩn.
"Đây là một lợi thế mà không nhiều nước trong khu vực có được: vị trí địa lý nằm trên tuyến vận chuyển năng lượng quan trọng nối Trung Đông với Đông Bắc Á", ông nhận định.
Phần lớn dầu thô vận chuyển từ Vịnh Ba Tư tới Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và ASEAN đều đi qua Biển Đông. Điều này khiến Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển các trung tâm lưu trữ, trung chuyển và phân phối dầu cho khu vực.
Trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu năng lượng của châu Á tăng nhanh, nhiều quốc gia đang tìm kiếm các địa điểm lưu trữ gần thị trường tiêu thụ để giảm chi phí vận chuyển và tăng khả năng ứng phó khủng hoảng. Nếu được đầu tư đúng hướng, Việt Nam có thể trở thành một trong những địa điểm phù hợp nhất cho mô hình dự trữ dầu quy mô khu vực.
Theo chuyên gia, nếu xây dựng được hệ thống kho dự trữ quy mô lớn, Việt Nam không chỉ đảm bảo an ninh năng lượng trong nước mà còn có thể cung cấp dịch vụ lưu trữ cho các nước trong khu vực và các nhà xuất khẩu dầu. Hoạt động này có thể tạo ra nguồn thu từ phí lưu trữ, dịch vụ logistics, cảng biển và tài chính năng lượng, đồng thời thu hút đầu tư vào hạ tầng dầu khí và hóa dầu.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các trung tâm lưu trữ năng lượng thường trở thành các trung tâm giao dịch và trung chuyển nhiên liệu. Singapore là ví dụ điển hình khi từ một nước không có tài nguyên dầu đã trở thành một trong những trung tâm thương mại dầu lớn nhất thế giới nhờ phát triển hệ thống kho chứa và cảng dầu. Nếu có chiến lược dài hạn, Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển theo hướng tương tự.
Chuyên gia nhấn mạnh, trong một thế giới mà bất ổn đã trở thành bình thướng mới, an ninh năng lượng không thể chỉ dựa vào thị trường. Dự trữ dầu mỏ là công cụ để bảo vệ nền kinh tế trước những cú sốc không thể dự đoán. Các nghiên cứu quốc tế gần đây đều cho thấy lợi ích của việc xây dựng kho dự trữ vượt xa chi phí đầu tư, đặc biệt đối với các nền kinh tế phụ thuộc nhập khẩu.
"Vấn đề còn lại không phải là có nên làm hay không, mà là Việt Nam sẽ hành động sớm đến mức nào để tận dụng cơ hội và giảm thiểu rủi ro trong tương lai, đồng thời nắm bắt cơ hội trở thành một trung tâm lưu trữ và phân phối dầu quan trọng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương", ông Cường cho hay.
Trước đó tại cuộc họp ngày 21/3,Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã yêu cầu đẩy nhanh việc bổ sung dự trữ quốc gia về xăng dầu; tăng cường kiểm tra, giám sát việc trích lập, quản lý và sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu.
Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương phải phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan đẩy nhanh việc bổ sung dự trữ quốc gia về xăng dầu, hoàn thiện cơ chế xuất, cấp dự trữ quốc gia về xăng dầu trong các trường hợp khẩn cấp theo Luật Dự trữ quốc gia. Về lâu dài phải quy hoạch và xây dựng hệ thống kho dự trữ.
Trong chuyến thăm chính tới Liên bang Nga, sáng 23/3, Thủ tướng cũng đã đề nghị Novatek -Tập đoàn hàng đầu của Nga và thế giới trong lĩnh vực khí tự nhiên xây dựng kho chứa khí LNG lớn tại Việt Nam.
Người đứng đầu Chính phủ đề nghị, Novatek phối hợp chặt chẽ với các địa phương, cơ quan và doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực năng lượng, dầu khí của Việt Nam như Petrovietnam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và cả các doanh nghiệp tư nhân để tham gia, triển khai các dự án khí LNG tại Việt Nam.
Đường dẫn bài viết: https://vietnambiz.vn/giai-phap-nao-de-nang-cao-la-chan-du-tru-dau-quoc-gia-202632410010889.htm
In bài biếtBản quyền thuộc https://vietnambiz.vn/